Người quai búa

(Xê va gửi Số Không)

Xin chào ông bạn! Cậu đừng ngạc nhiên sao lại nhận được thư mình nhé, vì lẽ ra phải đợi đến lượt Ô lếch mới đúng. Số là mình muốn được đích thân kể cho cậu nghe mình đã chơi trội như thế nào, nên Ô lếch nhường cho mình viết đấy.

Nghe nói các vĩ nhân rất thích lao động chân tay và ham thể thao. Lép Tôn-xtoi vẫn thường phát cỏ, khâu giày. Nhà bác học Páp lốp thích chơi khúc côn cầu. Còn mình thì mình quyết định trở thành người quai búa.

Trong vườn hoa ở đây có một trò chơi rất hấp dẫn. Đó là một cái lực kế. Chúng ta cũng có thứ máy này nhưng cấu tạo của lực kế ở đây hơi khác một chút.

Thông thường khi ta đập búa lên đe thì một “con mã” nảy vọt lên. Đập càng mạnh con mã nảy càng cao. Lực kế của chúng ta dùng để đo lực nhưng lực kế ở đây lại dùng để đo tri thức.

Con mã trượt trên một cái thước rất giống con đường một ray. Có điều là người ta không đặt trục số nằm ngang mà để dựng đứng. Và các con số trên đó toàn là số dương, bắt đầu từ số không. Người ta dùng lực kế để năng các số lên lũy thừa.

Cậu cứ nghĩ một số rồi nhẩm tính nâng số ấy lên lũy thừa bậc mấy đi. Muốn thử xem mình tính có đúng không, cậu chỉ việc cầm búa đập vào đe. Con mã sẽ nảy vọt lên đúng con số mà cậu tính. Nếu cậu tính đúng thì sẽ có đèn xanh bậy sáng bên cạnh con số ấy, còn nếu cậu tính sai thì đèn đỏ sẽ bật sáng.

Bọn mình nhường cho Ta nhi a đập búa trước. Biết làm thế nào được, nó là con gái mà! Ta nhi a nâng hai lên lũy thừa bậc ba. Nó tính ra là tám. Cô ta đập búa một cái. Con mã nảy vọt lên số tám và thấy bật đèn xanh.

Đến lượt Ô lếch. Cậu ta nâng hai lên lũy thừa bậc mười. Được 1024 và khi con mã bay vút đến số ấy thì cũng thấy bật đèn xanh. Tất cả những trò ấy mình cho là tầm thường quá. Mình muốn làm một chuyện gì đó để ai nấy phải lác mắt một phen. Mình tuyên bố là mình sẽ đập cú này vì danh dự của bạn mình là Số Không – Giáo sư.

Mình nâng hai lên lũy thừa bậc không. Mình tính ra là không.

Mình mắm môi mắm lợi nện một búa xuống đe … Chà chà! Con mã vẫn nằm yên ở vị trí số không: Thì chính mình định như thế mà lị! Nhưng mình sững sờ cả người khi thấy đèn đỏ bật sáng chứ không phải đèn xanh. Hay là mình đập mạnh quá hỏng mất lực kế rồi chăng? Nhưng tại sao mọi người xung quanh lại cười ồ lên mới được chứ?

Mình luống cuống không biết xoay xở ra sao. Bỗng có một chữ cái La Tinh – chữ n hay chữ m thì phải – bảo rằng ở đây ngay đến trẻ con cũng không nhầm như thế. Bất kỳ số nào nâng lên lũy thừa bậc không cũng đều bằng một chứ không phải là bằng không. Mình thử lại nhiều lần đều thấy đúng như thế cả! Năm, hay một trăm, hay hai trăm, số nào nâng lên lũy thừa bậc không cũng đều bằng một.

Mình bèn quyết định nâng số không lên lũy thừa bậc không xem sao. Mình lập luận thế này: Vì số không cũng là một số, mà mọi số nâng lên lũy thừa bậc không đều bằng một, cho nên số không nâng lên lũy thừa bậc không cũng bằng một.

Mình nện một búa lên đe, và …

Giá như mình đừng bao giờ làm như thế thì hơn!

Con mã xem chũng cáu tiết lắm: Nó bay vút lên tận mây xanh rồi lại bổ nhàu xuống tận đâu dưới đất sâu, sau đó lại bay vút lên.

Con mã cứ lồng lộn như thế mãi vì chẳng ai nghĩ đến chuyện hãm máy lại.

Cũng chẳng ai cười được nữa. Mặt người nào người nấy tái xanh tái xám gần như trong buổi biểu diễn dạo trước mà có một đứa cùng tên với cậu đã cuốm mất cái dấu nhân ấy. Chính mình, mình cũng không còn hồn vía nào nữa.

Khủng khiếp nhất là con mã cứ luôn luôn rơi tõm xuống mãi đâu đâu, tựa hồ đầu kia của trục số gắn vào một cái giếng không đáy, trong đó chứa toàn số âm vậy.

Chắc lúc ấy trông mình thảm hại lắm thì phải, bởi vì vẫn cô bé chữ cái ban nãy – chữ m hay chữ n gì đó – lại gần an ủi mình:

– Bạn đừng lo. Ai đến nước An gieps lần đầu tiên cũng có thể nhầm như thế thôi, chẳng nói mạnh được đâu. Số Không, tuy quả thật là một số, nhưng lại là một số hoàn toàn đặc biệt. Bạn còn nhớ đấy, nó không phải số dương cũng không phải số âm. Cho nên đối xử với nó phải rất thận trọng mới được. Mà khi bạn nâng số không lên lũy thừa bậc không nữa thì phải thận trọng gấp đôi cơ. Bởi vì khi ấy kết quả là một số vô định. Là năm cũng được, là một triệu cũng được, là vô tận cũng được, vô tận dương hay vô tận âm đều được cả, thậm chí là số không cũng được! Cho nên con mã mới lồng lộn như điên thế kia. Nó đến làm hỏng lực kế mất thôi.

Cô bé chữ cái cừ thật! Mình muốn tìm một câu thật là duyên dáng để nói với cô ta. Nhưng nói chung, xưa nay mình ăn nói vốn xoàng. May sao mình chợt nhớ cách nói năng của cô Nhi na nhà mình trong lúc trò chuyện với bè bạn. Mình bèn lấy giọng rất chi là điệu và nói:

– Chà chà! Cao cấp nhất đấy!

Cô bé chữ cái mỉm cười:

– Xin cảm ơn bạn. Nhưng tôi khuyên bạn không nên nói “cao cấp nhất” ở nước An giép này. Một bậc dù cao đến đâu cũng vẫn có bậc cao hơn nó. Bởi vì các số là vô tận mà lị.

Ôi, thật là tại cô Nhi na mà mình lâm vào nông mỗi này!

Lúc ấy lực kế đã dịu lại. Và Ta nhi a định sẽ nâng một số lên lũy thừa mà bậc của lũy thừa là phân số chứ không phải số nguyên. Cô ta bảo:

– Theo ý mình, nâng bốn lên lũy thừa bậc một nửa sẽ được hai.

– Cậu lấy đâu ra con số ấy? – mình hỏi vặn luôn.

– Này nhé: Bốn nâng lên lũy thừa bậc không thì bằng một. Bốn nâng lên lũy thừa bậc một nửa sẽ bằng một nửa của bốn, tức là hai chứ còn gì nữa.

Ta nhi a đập búa. Con mã dừng lại ở số hai và thấy đèn bật đèn xanh. Mình bèn thử ngay. Mình tuyên bố:

– Tớ sẽ nâng chín lên lũy thừa bậc một nửa cho mà xem. Tớ lý luận như thế này nhé: Lũy thùa bậc không của chín là một. Lũy thừa bậc một của chín là chín. Vậy, lũy thừa bậc một nửa của chín là bốn rưỡi.

Mình trịnh trọng nên một búa lên đe, con mã dừng lại ở số bốn rưỡi, nhưng … lại thấy đèn bật đỏ. Mình sững sờ cả người. Mình thật là xúi quẩy! Nhưng tại sao mình tính lại sai cơ chứ? Mình cũng lý luận như Ta nhi a cơ mà!

Cô bé chữ cái khi nãy (tệ thật, thế mà mình vẫn không nhớ là chữ m hay chữ n cơ chứ!) lại đến giúp mình. Cô bé bảo:

– Nguyên do là cô bạn khi nãy cũng nhầm, thế mà bạn lại bắt chước làm theo cô ấy. Lũy thừa bậc một nửa của chín quả thật nằm ở khoảng giữa số một và số chín nhưng không đúng bằng nửa số chín đâu. Muốn nâng một số lên lũy thừa một nửa thì phải khai căn bậc hai số ấy, chứ không phải chia số ấy làm hai. Mà căn bậc hai của chín là ba chứ không phải bốn rưỡi.

Advertisements

Chật chội thật, nhưng không phiền lụy ai

(Ta nhi a gửi Số Không)

Thật tội nghiệp cho cậu. Số Không ạ! Sao đầu óc cậu cứ mụ mẫm ra như thế! Hết phát minh ra bánh âm lại bịa ra Số Không dương với Số Không âm!

Từ nay đến già cậu phải nhớ rằng số không là một số duy nhây không dương mà cũng không âm. Nó tự như ranh giới giữa các số dương và số âm ấy mà.

Dĩ nhiên ở trường cậu cũng có Số Không dương và Số Không âm. Nhưng đấy lại là chuyện khác. Chúng chỉ là những chú bé Số Không ngoan ngoãn và những thằng Số Không hư hỏng thôi. Câu hỏi thứ hai của cậu về chuyện các bác Khổng lồ thì lí thú lắm đấy. Bọn mình không hỏi máy tự động mà hỏi ngay bà mẹ Số Hai. Bà khen cậu là đứa trẻ ham hiểu biết đấy.

Đúng là cả hai phía đường một ray đều dẫn đến nước Vô tận. Chắc cậu đã rõ nước Vô tận là xứ sở của các số Khổng lồ. Vô tận cũng có vô tận dương và vô tận âm. Có điều trong mỗi nước có luật lệ riêng của họ. Nhưng người Khổng lồ âm và dương chung sống với nhau rất hòa thuận. Vì sao họ lại cư xử với nhau tốt như thế thì bọn mình không rõ. Hỏi bà mẹ Số Hai thì bà lại trả lời: “Rau quả có vụ chứ”.

Xin báo để cậu mừng là bọn mình đã học được phép nhân và phép chia rồi.

Hẳn cậu đã biết, phép nhân có thể xem như phép cộng.

Nhân hai với ba thì chẳng khác gì cộng ba số hai lại với nhau.

+2 × +3 = +2 + +2 + +2 = +6

Nhân một số âm với một số dương thì cũng thế thôi. Chẳng lẽ nhân âm hai với dương ba lại không giống cộng ba số âm hai lại với nhau? Và, do khi cộng các số âm chạy về bên trái ga ôố Không cho nên tích cũng là một số âm, tức là âm sáu:

2 × +3 = 2 + 2 + 2 = 6

 Xê va bèn hỏi:

– Thế nếu nhân âm ba với dương hai thì sao?

– Có gì khác đâu? – bà mẹ Số Hai nói ngay – Trước là âm sáu, bây giờ cũng là âm sáu. Các cháu xem:

3 × +2 = 3 + 3 = 6

 – Rõ rồi! – Xê va gật đầu. – Dù các thừa số có đổi dấu thì tích số vẫn không thay đổi. Nếu ta nhân hai số khác dấu thì tích số bao giờ cũng có dấu âm. – Xê va nhìn mọi người, ra vẻ quan trọng. Cậu ta tự mãn ra mặt. – Các cậu đã hiểu hết chưa nào? Ta tiếp tục nhé. Bây giờ ta xét trường hợp cả hai thừa số đều âm.

– Sao? Cháu định lên lớp ư? – Bà mẹ Số Hai nói, – nếu thế chúng tôi xin sẵn sàng nghe bạn giảng bài.

Xê va lúng túng nói chữa:

– Chết, cô hiểu lầm cháu rồi. Cháu nói chờ nghe cô giảng đấy chứ.

– Ồ, nếu thế lại là chuyện khác.

Xê va làm bọn mình đâm khó xử. Bọn mình tưởng bà mẹ Số Hai phật ý. Nhưng bà nhìn bọn mình bằng cặp mắt hóm hỉnh rồi tiếp tục giảng.

– Các cháu muốn biết nhân hai số âm với nhau thì sẽ ra sao phải không? Cũng dễ đoán thôi. Muốn nhân một số bất kỳ với một số dương thì nếu nó ở phía nào của ga Số Không ta phải đặt nó về phía ấy một số lần bằng số dương kia.

Nhưng khi nhân một số bất kỳ với một số âm thì mọi chuyện đều xảy ra ngược lại. Các cháu đã biết bọn số âm ương bướng như thế nào rồi. Cho nên số bị nhân ở phía nào thì ta không đặt nó ở phía ấy mà lại đặt sang phía bên kia:

+2 × 4 = 8

Bây giờ ta có thể hiểu dễ dàng, nhân một số âm với một số âm sẽ được một tích số như thế nào. Trong trường hợp này phải đặt số bị nhân về phía bên phải ga Số Không.

2 × 4 = +8

– Lại thế cơ à! – Lông mày của Xê va nhíu lại như hai cái dấu hỏi. – Số âm nhân với số âm mà lại thành số dương? Quái lạ thật!

Bà mẹ Số Hai liền trả lời:

– Nhưng ở nước An giép chúng tôi thì đâu đâu cũng gặp những chuyện quái lạ như vậy.

– Nếu thế, cô giảng mau mau cho chúng cháu phép chia đi. Chắc còn nhiều điều mới lạ nữa ấy chứ?

– Chẳng có gì mới lạ đâu. Phép chia chẳng qua là phép tính ngược với phép nhân. Các quy tắc về dấu không hề thay đổi:

6 : +3 = 2

6 : 3 = 2

Bọn mình cảm thấy đã giỏi ghê gớm rồi. Dương dương tự đắc nhất là Xê va. Cậu ta vỗ ngực tuyên bố:

– Bây giờ cánh ta biết hết mọi thứ! Con đường này ta nắm chắc như lòng bàn tay ấy chứ!

Bà mẹ Số Hai liền nói:

– Các cháu lầm rồi. Các cháu mới làm quen với các số nguyên thôi.

– Lại còn những thứ số khác nữa ư?

– Chứ sao!

– Chắc cô muốn nói đến phân số? – Ô lếch lên tiếng.

– Không chỉ có số phân mà thôi. Số phân là những số nằm giữa các số nguyên. – Bà mẹ Số Hai giơ ngón tay trỏ vào các thanh lan can mà trước đây bọn mình đã đếm nhẩm cho qua thì giờ. – Ở đây khoảng cách giữa các số nguyên được chia thành mười phần bằng nhau. Mỗi phần là một phần mười đơn vị. Nhưng thật ra còn có thể chia nhỏ hơn nữa. Ta có thể chia tưởng tượng trong óc khoảng cách ấy thành bao nhiêu phần tùy ý.

– Nghĩa là toa xe có thể không những dừng lại trước những số nguyên mà nó còn dừng lại được trước bất kỳ phân số nào, tức là dừng lại ở khoảng giữa hai ga chứ gì?

– Dĩ nhiên! Nếu có lệnh thì bất kỳ chỗ nào nó cũng dừng lại được!

Bọn mình liền gọi một toa và bảo dừng lại ở số 2,5 rồi ở số 3,44.

… Bọn mình còn gọi cả số -5,0000004 và toa tàu khi lướt qua ga Số Không thì đổi sang màu xanh và dừng lại trước một ga chỉ cách ga số 5 một sợi tóc.

– Thế là toàn bộ con đường vô tận này chứa đầy các số phải không ạ? – Xê va đánh bạo phát biểu, tuy còn nửa tin nửa ngờ.

– Đúng thế! – bà mẹ Số Hai đáp. – Có thể nói con đường này là liên tục. Ở đây mật độ dân số rất cao. Trên con đường này không hở một chỗ nào không có con số trú ngụ cả. Trong đám các số ấy, còn có những số mà người ta không bao giờ có thể tính được thật chính xác.

– Số gì mà lại không tính được?

– Hãy lấy ví dụ căn bậc hai của số hai thôi. Cháu hãy thử tìm một số mà nâng lên lũy thừa hai thì được hai xem nào.

Xê va vỗ vỗ trán suy nghĩ một lát rồi lắc đầu cười và hỏi:

– Thế những số như vậy có nhiều không, hả cô?

– Nhiều vô tận. Người ta gọi chúng là những số vô tỷ để phân biệt với số hữu tỷ. Số hữu tỷ, theo nghĩa gốc tiếng La tinh của nó “ratio” có nghĩa là số hợp lý, tức là số mà lý trí con người có thể hình dung được.

Xê va cố nhinh để khỏi cười phá lên:

– Ôi, buồn cười đến chết mất thôi! Số hữu tỉ nghĩa là số có lý trí còn số vô tỷ là số mất trí, là số điên chứ gì?

– Chà, ai lại nói bừa như thế cơ chứ! – bà mẹ Số Hai có vẻ phật lòng, – Chẳng qua chỉ là các số này không thể tính chính xác được mà thôi. Cho nên suốt một thời gian dài người ta không công nhận chúng là số. Nhưng từ ngày ở nước chúng tôi xây dựng con đường một ray (hay trục số, như người ta thường gọi) thì rốt cuộc các số vô tỉ đã có địa chỉ chính xác sau một thời gian dài sống lang thang phiêu bạt. Tuy người ta vẫn chỉ tính được chúng một cách gần đúng như trước thôi, song được cái là bây giờ có thể dễ dàng chỉ rõ vị trí của chúng trên đường một ray. Các số vô tỉ đã cùng với số hữu tỉ họp thành một gia đình êm ấm những số thực.

Kết thúc câu chuyện như vây, bà mẹ Số Hai lại bắt bọn mình phải ngạc nhiên một lần nữa”

– Lại còn những số không thực nữa sao?

– Dĩ nhiên. Còn các số ảo, số phức …

Xê va không đợi bà Số Hai nói hết câu. Cậu ta hét tướng lên:

– Cháu nhớ rồi! Đơn vị ảo cũng có nơi dùng!

Mình xác nhận ngay:

– Đúng thế, đúng thế! Bữa trước máy tự động đã trả lời cô bé chữ i che ô tí xíu như vậy đấy.

Bà mẹ Số Hai gật đầu:

– Phải rồi, chữ i ở nước An giép dùng để ký hiệu đợn vị Ảo đấy.

– Nhưng tại sao lại gọi là ảo? Nó là ôố người ta tưởng tượng ra, phải không ạ?

– Đúng. Nó là số tưởng tượng ra cho nên cũng nư mọi số ảo khác nó không có nổi một mảnh đất cắm dùi trên con đường một ray vô tận này.

– Thảo nào, hôm ấy trông nó âu sầu, ủ rũ quá! – Xê va tỏ vẻ am hiểu.

– Thế các số ảo sống ở đâu ạ? – Ô lếch hỏi.

– Rau quả có vụ chứ!

Bọn mình đành cất cái tò mò vào túi vậy. Bọn mình chia tay bà mẹ Số Hai và lại đi tiếp…, Cậu có biết đi đâu không? Dĩ nhiên là đi đến Vườn hoa Khoa học và Nghỉ ngơi.

Thư sau cậu sẽ rõ bọn mình nghỉ ở đấy như thế nào.

Ta nhi a,

Vụ ẩu đả giữa hai Số Không

(Số Không gửi đội KBL)

Chào các cậu! Mình chẳng biết các cậu bảo không có bánh ga tô âm có đúng hay không, chứ Số Không âm thì có đấy. Sáng nay một thằng Số Không âm đã xông vào một thằng Số Không khác mà trước nay vẫn được coi là dương trăm phần trăm. Một cuộc ẩu đả đã nổ ra. Chỉ một li nữa là hai đứa tiêu diệt lẫn nhau. Mình đã nghĩ không biết có nên rào hai đứa ấy lại như người ta rào các trị tuyệt đối hay không. Nhưng những thằng Số Không khác đã đánh cắp ngay hàng rào. Qua đó, mình rút ra kết luận là thằng Số Không dương chỉ làm ra vẻ dương thôi, chứ thực ra nó cũng là âm! Thế là mình phê cho mỗi đứa một dấu âm to tướng.

Trường của mình vẫn tiếp tục học. Các chữ Hi lạp khó quá. Bọn mình phải tạm gác lại. Nhưng chữ cái La tinh thì đứa nào cũng thích. Nhưng tại sao có chữ lại đọc khác nhỉ, ví dụ D đọc là “đê”? Còn chữ “Q” thì hay đấy! Nó giống mình mà lị.

Nếu các cậu có dịp đến thăm máy tự động thì nhớ hỏi cho mình điều này nhé: đường một ray dẫn đến đâu? Có phải đến xứ sở các bác Khổng lồ mà mỗi khi bọn Số Không chúng mình quấy phá thì người ta lại gọi các bác ấy đến trị không? Và các bác Khổng lồ ấy ở đâu? Ở bên phải hay bên trái Ga Số Không?

Số không – Giáo sư

Vườn hoa trung tâm – Khoa học và Nghỉ ngơi

(Xê va gửi Số Không)

Xin chào ngài Giáo sư!

Chắc cậu cũng quen với chuyện Người Mặt Nạ đen vẫn bặt tin rồi nhỉ. Nhưng bù lại, mình có nhiều chuyện lạ khác, cậu tha hồ mà thích nhé.

Mãi đến hôm nay mình vẫn chưa hiểu nổi cái nước An-giép này là thế nào nữa! Cái xứ này thật là muôn hình muôn vẻ. Khi thì bước vào một thành phố lớn rất hiện đại, khi lại gặp một thành phố nhỏ phương Đông thời cổ với những phố xá hẹp… Ở đấy đừng nói gì hai xe ca, chỉ hai con lừa thôi cũng không tránh nhau nổi. Thành phố nhỏ ấy tên là Khi-va.

Xưa kia, đây là một kinh đô. Bởi vì hơn một nghìn năm về trước, người sáng lập nên nước An-giép là Mô-ha-mét Íp-nơ Mu-xa An Khơ-va-rê-đơ-mi đã từng sống ở đây. Cậu đừng thấy cái tên dài dằng dặc mà đâm hoảng. Cũng dễ hiểu thôi, Íp-nơ Mu-xa có nghĩa là con trai của Mu-xa, tựa như tên đệm của người Nga ấy mà. An Khơ-va-rê-đơ-mi nghĩa là ở Khô-rê-đơ-mơ. Khô-rê-đơ-mơ là một quốc gia cổ, ở đó có thành phố Khi-va mà mình vừa nói ở trên. Tóm lại, ông ta là Mô ha mét con trai Mu-xa người xứ Khô-rê-đơ-mơ.

Ừ, về Mô-ha-mét thì bọn mình đã hiểu rõ rồi. Nhưng còn An-giép là gì? Nghe nói, đấy là một từ A rập, có nghĩa là khôi phục lại. Cứ cho là như thế đi. Nhưng khôi phục lại cái gì mới được chứ? Bà mẹ Số Hai đã giải đáp thắc mắc của mình bằng câu phương ngôn mà bà ưa thích: “Rau quả có vụ chứ”. Và bà nói rõ rằng chính từ “An-giép” đã được người ta lấy để đặt tên cho một môn khoa học mà ngày nay trường nào cũng dạy cả: Môn an giép tức là đại số học. Gớm! Lại môn học ở trường! Đã tưởng được nghỉ ngơi! Chẳng trốn đâu cho thoát được khoa học. Ngay cái vườn hoa mà bà mẹ Số Hai dẫn bọn mình đến cũng được đặt tên là Vườn hoa trung tâm khoa học và Nghỉ ngơi. Mình phát chán lên được. Nhưng sau mới thấy cái vườn hoa này cũng không đến nỗi tồi. Ở đâu có nhiều trò chơi hấp dẫn lắm, đi một lần cũng không sao xem hết được.

Vườn hoa đông nghịt những người. Ngoài người tí hon ra còn có cả những chữ cái đi dạo chơi. Bọn mình cứ gặp họ luôn. Có những chữ bọn mình đã biết, nhưng cũng có những chữ hoàn toàn chưa biết mặt. Bà mẹ Số Hai gặp ai cũng chào hỏi niềm nở và gọi rõ tên từng người.

“Chào bác Pi! Bác Ô-mê-ga thân mến, bác có khỏe không? A, chú bé Ép-xi-lon nhỏ nhoi, lâu lắm ta không gặp chú đấy”

Bọn mình muốn tìm hiểu kỹ hơn các chữ cái, nhưng bà mẹ Số Hai hình như có ý cứ kề cà trò chuyện mãi với một bà Xích-ma béo trục béo tròn. Bỗng bọn bình trông thấy một tòa nhà có biển đề: “Nhà tra cứu tự động”. Nơi bọn mình sẽ được giải đáp hết mọi thắc mắc đây rồi!

Bọn mình theo những bậc thềm rộng bước vào một gian phòng lớn, sáng sủa. Ở đây chỗ nào cũng thấy đặt những tấm bảng làm bằng chất dẻo. Mỗi bảng có một micro và một loa phóng thanh. Cứ đến chỗ micro nêu lên câu hỏi là sẽ được trả lời ngay. Ở nước An-giép cũng giống như ở nước Tí hon các cậu, chẳng có điều gì phải bí mật, giấu giếm cả. Ai cũng có thể nghe máy tự động trả lời người bên cạnh.

Đứng cạnh bọn mình là một chữ i bé nhỏ, vẻ kì dị, che một cái dù xinh xinh màu đỏ. Bọn mình nghe thấy cô bé buồn rầu hỏi máy:

– Xin hỏi: liệu tôi có tìm được một chỗ sống ở đây không?

Máy tự động suy nghĩ giây lát, rồi trả lời:

– Có. Đơn vị Ảo cũng có nơi dùng đấy.

Đơn vị Ảo thở phào một cái nhẹ nhõm rồi vụt chạy biến. Cậu có hiểu ra sao không, hả Giáo sư? Đơn vị âm hãy còn chưa đủ hay sao mà lại còn thêm đơn vị Ảo nữa chứ!

Bọn mình quyết định sẽ không để tai nghe những chuyện tào lao nữa, mà bắt tay ngay vào việc chính. Ô lếch đến gần một cái micro và nêu câu hỏi:

– Xin hỏi: Làm thế nào khám phá được bí mật của Người Mặt Nạ đen?

– Không có gì đơn giản hơn! – máy tự động trả lời, – Muốn thế phải giải một phương trình.

– Phương trình nào cơ?

– Phương trình mà các bạn tự lập ra ấy.

– Nhưng lập như thế nào mới được chứ?

– Hãy đọc bức thư trong vỏ quả đậu xanh.

– Nhưng làm thế nào dịch được mật mã?

– Đến quán cafe “Úm ba la”.

– Làm thế nào đến được đấy?

– Muốn đến đấy phải tìm hiểu phong tục tập quán ở nước chúng tôi.

Mình buột miệng nói:

– Chúng tôi tìm hiểu rồi.

Thế là máy tự động nổi nóng luôn:

– Cậu thiếu niên kia ơi, ngay đến các quy tắc vận hành trên đường một ray, cậu cũng học chưa hết đâu!

Mình phát cáu:

– Ai bảo bác thế? Chúng tôi đã biết cộng, trừ các số dương và số âm rồi đấy thôi.

– Thế còn nhân? Còn chia? Còn phân số? Còn số ảo? Còn …

Máy tự động tuôn ra hàng lô danh từ mà bọn mình chưa từng nghe thấy bao giờ. Bọn mình quay ra hỏi nhau. Máy tự động càng tức sôi lên:

– Thấy chưa? Ngay đến những điều thông thường nhất các cậu cũng còn chưa hiểu cơ mà. Thôi, chẳng nói chuyện đứng đắn với nhau được đâu!

Rồi máy im bặt. Bọn mình nêu câu hỏi nào máy cũng bỏ ngoài tai. Nhưng cuối cùng Ta nhi a cũng làm cho máy phải mủi lòng. Bọn con gái vẫn giỏi về mặt ấy mà. Cô nàng nói:

– Bác máy tự động phúc đức ơi, bác đừng bực mình với chúng tôi. Chúng tôi ngốc nghếch chẳng biết gì đâu. Bác giúp chúng tôi đi!

Máy tự động ầm ừ do dự, rồi làu nhàu:

– Thôi được. Đến chỗ cái khay kia lấy một đồng xu rồi bỏ vào cái khe ở phía dưới loa phóng thanh ấy. Ổn rồi! Bọn mình đã sắp biết được bí mật của vỏ quả đậu xanh rồi!

Mình xúc động quá đến nỗi không làm sao bỏ được đồng xu vào khe hở nữa. Nhưng chỉ phí công vô ích thôi. Từ cái khe rộng ở bảng thấy hai tấm thiếp rơi ra. Trên thiếp in ảnh các chữ cái mà khi nãy bọn mình đã gặp ở ngoài vườn hoa. Mỗi ảnh in hai chữ, một chữ hoa và một chữ thường. Bên dưới đề tên chữ ấy. Hệt như là bức ảnh chụp học sinh lớp bọn mình hàng năm ấy.

Mình bực tức đến phát khóc. Nhưng máy tự động (không hiểu sao bác ấy tinh thế, cái gì bác ấy cũng thấy) càu nhàu bảo rằng lần đầu tiên như thế là đủ lắm rồi, và chừng nào bọn mình chưa thuộc hết mặt chữ, tên chữ thì đừng có hỏi gì máy cả.

Ô lếch bèn nói:

– Thưa bác máy tự động đáng kính, chúng tôi sẵn lòng học mọi thứ, bao nhiêu cũng được. Nhưng xin bác hãy giảng cho chúng tôi được biết các chữ này là gì đã.

– Ừ thì cứ hỏi, – máy tự động trở nên dễ tính, – ta không bao giờ từ chối chuyện đó cả. Trên tấm thiếp thứ nhất in ảnh các cư dân chính của nước An giép, gồm hai mươi sáu chữ cái La tinh. Vẫn chữ cái này được dùng ở nhiều nước. Xưa kia nó được công nhận ở Cổ La mã, và cho đến nay nhiều nước vẫn đang dùng. Nhưng còn những chữ in trên tấm thiếp thứ hai thì các bạn khó mà biết được. Đó là hai mươi bốn chữ cái đại diện cho vẫn chữ cái Hi lạp. Ở An giép cũng ít dùng thôi, nhưng các bạn cũng nên biết.

Bọn mình ngắm nghĩa hai tấm ảnh. Những chữ cái La tinh thì không sao. nhưng những chữ Hi lạp thì bọn mình không khoái lắm. Chúng uốn éo đến khiếp. Ví dụ như chữ kxi, trông chẳng khác gì con rắn!

Vừa lúc ấy thì bà mẹ Số Hai đến. Bọn mình chia tay máy tự động và trở về con đường một ray để nắm vững lần cuối cùng cho xong các quy tắc vận hành rối rắm và phức tạp của nó.

Trước khi đi mình đã kịp bỏ một đồng xu vào khe và xoay thêm được hai tấm ảnh nữa. Mình gửi cho cậu làm tài liệu lên lớp lần sau.

Còn bây giờ thì kxi-pxi nhé! Thôi chào cậu.

Xê va

Các quy tắc vận hành

(Ô lếch gửi Số Không)

Thưa giáo sư kính mến!

Cậu đã có một sáng kiến rất tuyệt để thu hút các bạn cậu vào một công việc có ích. Mình chỉ khuyên cậu một điều là trước khi muốn giải thích cho người khác một vấn đề gì thì bản thân mình phải nắm cho thật vững vấn đề đó đã. Đó là cách giữ uy tín tốt nhất. Còn “huy tín” thì không thể nào mất được, vì làm gì có cái từ ấy cơ chứ.

Nếu cậu nghe mình thì bọn học trò của cậu chẳng ai phải ăn miếng bánh ga tô âm cả. Chỉ có các số mới có số âm thôi. Và số âm rất là cần thiết. Nếu thiếu số âm thì nhiều bài toán ở nước An giép sẽ không giải được. Cứ lấy bài toán mà bà mẹ Số Hai đã ra cho hai cô con gái bữa nọ cũng đủ rõ. Bài toán ấy là một bài toán đơn giản thôi, nhưng ở nước An giép còn nhiều bài toán phức tạp hơn. Ở đây người ta gọi chúng là những phương trình. Bà mẹ Số Hai nói rằng, giải những phương trình này đối với chúng mình là quá sớm. Đầy tiên phải tìm hiểu về các quy tắc vận hành trên đường một ray đã. Bữa nay viết thư cho cậu cũng là cốt để kể về chuyện đó.

Hẳn cậu còn nhớ, ở bên phải ga Số Không toàn là các số dương, còn ở bên trái toàn là số âm cả. Và các số âm cũng có thể đem cộng, trừ, nhân, chua giống như số dương. Ở phía các số âm, các toa xe vận hành theo nhưng quy tắc giống như ở phía số dương nhưng có điều là bao giờ cũng ngược chiều. Các số âm thế mà bướng thật. Cái gì cũng cứ làm ngược lại!

Cậu xem đây, bọn mình đã cộng và trừ những số dương như thế này này.

+5 + +3 = +8

+5 – +3 = +2

Đối diện với số năm, xuất hiện một toa màu đỏ. Khi cộng, toa ấy di chuyển về bên phải số năm đến ga số 8, còn khi trừ thì nó di chuyển về bên trái, đến ga số 2.

Với các số âm, tình hình cũng như thế, có điều là toa xe di chuyển theo chiều ngược lại.

5 + 3 = 8

5 – 3 = 2

Lúc này đối diện với số âm năm xuất hiện một toa xe màu xanh. Khi cộng nó chạy về bên trái đến ga âm tám, và khi trừ nó chạy đến ga âm 2.

Cậu Xê va liền nói:

– Rõ rồi. Nhưng nếu một số hạng âm còn số hạng kia dương thì sao?

Bà Số Hai nhún vai:

– Có sao đâu! Trong mọi trường hợp, quy tắc vận hành cũng vẫn thế thôi. Thêm một số dương thì toa xe chạy về bên phải, thêm một số âm thì toa xe chạy về bên trái. Đây nhé:

Xê va chau mày:

– Hừ! Hừ, kỳ lạ thật…, Năm cộng với ba bằng hai! Cháu chưa hiểu cách cộng này lắm. Có lẽ trừ dễ hơn chăng?

– Ừ thì trừ, – bà mẹ Số Hai chiều ý. – Ta hãy trừ âm năm đi dương ba nhé.

5 – +3

Bà ấn nút. Ở bên trái Số Không, đối diện với ga âm 5 xuất hiện một toa màu xanh. Toa này lập tức lắn bánh về phía bên trai và dừng lại ở ga âm 8.

Xê va càng ngạc nhiên hơn:

– Mỗi lúc một khó hơn! Năm trừ ba lại được tám. Lẽ nào trừ mà con số lại tăng lên?

Bà mẹ Số Hai giải thích:

– Cháu phải nhớ là chúng ta không lấy số năm mà lấy âm năm trừ đi ba. Và chúng ta được âm tám chứ không phải tám. Âm tám không lớn hơn âm năm mà nhỏ hơn âm năm đấy!

– Cháu lại càng mù tịt, chẳng hiểu gì cả!

– Rồi cháu sẽ hiểu thôi. Một số dương càng gần ga Số Không thì càng nhỏ. Nhưng nó vẫn lớn hơn số không. Phải không nào? Còn những số nằm ở bên trái ga Số Không (tức là những số âm) thì đều nhỏ hơn Số Không cả và số nào càng xa Số Không thì càng nhỏ. Chẳng là, đối với các số âm thì mọi chuyện đều trái ngược lại cả mà lị!

– Thế thì âm một triệu nhỏ hơn âm một nghìn ư?

– Dĩ nhiên rồi.

Ta nhi a suy luận ngay:

– Như vậy thì dương một triệu lớn hơn số không bao nhiêu thì âm một triệu bé hơn số không bấy nhiêu.

– Giỏi! – bà mẹ Số hai khen. – Nhưng vì hai số một triệu ấy cách Số Không một khoảng bằng nhau nên người ta quy ước là chúng bằng nhau về giá trị tuyệt đối. Người ta viết thế này:

|+1 000 000| = |1 000 000|

Xê va thắc mắc:

– Những nét gạch ấy nghĩa là thế nào?

Bà Số Hai mỉm cười, nói đùa:

– Cũng đại khái như người ta phải rào các số lại để chúng khỏi đánh nhau ấy mà.

– Nhưng vì cớ gì mà chúng lại gây sự với nhau cơ chứ?

– Các cháu thấy đấy, các số âm và số dương biết tỏng là chúng khác nhau đến mức nào rồi. Cho nên chúng không chịu nổi cái chuyện người ta coi chúng là như nhau về giá trị tuyệt đối. Chỉ cần lôi chúng ra khỏi cái hàng rào và cộng chúng lại, là chúng vồ lấy nhau và tiêu diệt nhau ngay lập tức.

Nói xong bà ấn vào những cái nút nào đó, lập tức trên đường ray xuất hiện hai toa xe: một toa đỏ ở ga số 3 và một toa xanh ở ga số âm 3. Hai toa xô lại với nhau và đến ga Số Không liền biến thành một toa trong suốt, không màu.

Xê va khoái quá, kêu lên:

– Thần tình chưa!

+3 + 3 = 0

– Thần tình thế mà lại hết sức bình thường đấy! – bà Số Hai hướng dẫn chúng tôi cười rộ, – Chẳng qua là khi thêm âm ba vào dương ba thì toa đỏ sẽ chạy về bên trái. Còn thêm dương ba vào âm ba thì toa xanh lại chạy về bên phải. Và vì giá trị tuyệt dối của chúng bằng nhau cho nên chúng đã thủ tiêu lẫn nhau ở ga Số Không

Giáo sư Số Không thân mến ơi, không biết cậu thế nào chứ bọn mình thì cứ nát cả óc vì tất cả những chuyện “thông thái” ấy. Cũng may mà bà mẹ Số Hai tế nhị đã nhận thấy bọn mình mệt phờ. Bà liền đề nghị bọn mình dạo chơi một lát cho đỡ căng.

Bọn mình rất mừng vì bà hứa sẽ dẫn đi thăm một vườn hoa ở đây.

Mình xin phép dừng bút ở đây nhé.

Lần sau đến lượt Xê va viết thư cho cậu đấy.

Ô lếch

Mở trường học ở quảng trường số

Số Không gửi đội KBL,

Chào các cậu, Số Không viết thư cho các cậu đây.

Mình đã nhận được thư của các cậu rồi. Rất cảm ơn. Về chuyện Người Mặt Nạ đen, mình không hở ra điều gì với mẹ mình đâu. Nhưng hình như mẹ mình cũng đoán ra có chuyện gì đây. Chẳng hạn, hôm mới rồi mẹ mình bảo hồi này trình độ văn hóa của mình khá lên trông thấy, và mình khác hẳn trước đến nỗi ai lâu không gặp thì không nhận ra được mình nữa. Nhưng mình nghĩ mình cũng chưa thay đổi bao nhiêu, bằng cớ là Pôn sích về vẫn nhận ra mình ngay cơ mà.

Nhưng có một cái thì đúng là đã thay đổi, đấy là cái tên của mình. Mình không còn là thằng Số Không – lêu lổng nữa đâu. Bây giờ ai ai cũng gọi mình là Số Không – Giáo sư…, Chẳng là mình mới mở một ngôi trường học ở Quảng trường Số để dạy bọn Số Không mà lị. Bọn nó dạo này không dong chơi lêu lổng nữa, mà đứa nào cũng đi học cả. Tất cả học trò của mình đều chăm chú nghe đọc thư các cậu. Gặp chỗ khó mình phải cắt nghĩa cho bọn chúng hiểu. Mỗi bức thư của các cậu, bọn mình đọc đi đọc lại đến mấy lần ấy. Từ nay các cậu phải viết tiếp thư nhanh nhanh lên kẻo mình chẳng còn gì để dạy nữa và có lẽ đến phải bịa chuyện cho học sinh mình nghỉ hè mất thôi.

Bữa trước nọn mình vừa tổ chức làm bài thực hành. Thằng Số Không – Bánh kẹo mang đến mười bốn cái bánh, mà trường lại có những mười lăm đứa. Thế là thiếu phần của một đứa. Mình bảo sẽ chia cho nó một cái bánh âm. Nó khóc ầm lên và nói sao tất cả các bạn khác được bánh dương mà nó lại phải ăn bánh âm. Bọn mình cũng ái ngại cho nó. Chợt mình nhớ đến cách chia phần của những người phàm ăn mà các cậu kể trong thư … Bọn mình quyết định chia bánh theo cách lấy trung bình công. Khó quá, nhưng rồi cũng ồn. Mỗi đứa được chia một phần bánh bằng nhau, là bao nhiêu thì mình cũng quên rồi. Mình đã định hỏi lại bọn học trò nhưng ngại mất huy tín.

À quên! Mình buồn phiền quá. Sao các cậu lại để sểnh mấy Người Mặt Nạ đen? Không nói khoác đâu, nhưng phải tay mình thì đừng hòng! Thôi, tạm biệt các cậu.

Đội viên chính thức của đội KBL

Số Không – Giáo sư

Mình quên khuấy mất không hỏi: Sao lại cần đến số âm nhỉ?

Một đường ray lơ lửng trên không

Ta nhi a gửi Số Không

Cuối cùng, đến lượt mình viết thư cho cậu đây. Phải đợi lâu, nhưng được cái là có chuyện để nói. Cậu biết không, bọn mình vừa đến thăm con đường một ray lơ lửng trên không. Lần đầu tiên trong đời đấy.

Thực ra hiện nay nhiều nơi cũng đã xây những con đường lơ lửng trên không rồi. Nhưng đây là một con đường đặc biệt, hết sức đặc biệt cơ. Chẳng biết rồi mình có tả cho cậu nghe được rành rọt không đây. Nhưng dù sao cậu cũng chịu khó đọc thật kỹ, Số Không nhé.

Cậu hãy hình dung mẹ cậu vừa giặt xong một lô quần áo và định đem phơi. Thế là bà lấy một sợi dây đem căng thẳng tắp ngoài trời nhưng sợi dây này dài đến nỗi đầu dây mất hút, không nhìn thấy đâu nữa. Và đáng lẽ là quần áp phơi thì lại là những toa xe gòng nhỏ xíu đủ màu treo trên dây. Quần áo phơi, người ta thường dùng cặp giữ cho khỏi bay, nhưng các toa xe này thì mắc lên dây bằng một bánh xe nhỏ lắp ở trên mui toa.

Dĩ nhiên mẹ cậu chẳng có thể căng được một sợi dây dài đến thế. Vả lại đây không phải là một sợi dây mà là một đường ray bằng thép kéo dài không biết tới đâu là cùng.

Song song với đường ray và thấp hơn nó một chút là đường sân ga, cũng dài vô tận, trên đó gắn những con ôố xép theo đúng thứ tự: Một, hai, ba, bốn, năm …. đứng cách nhau đều tăm tắp, hệt như trên cái thước dẹt của bọn mình ấy.

Mỗi số có một cái thang hẹp bắc từ dưới mặt đất lên. Chỉ khác là các số trên thước dẹt toàn ghi từ số không về phía bên phải, còn ở đây thì ghi về cả hai phía. Ở giữa hai số một lấp lánh một số không to tướng, hệt như chữ M treo trên các ga xe điện ngầm ấy. Đó là ga Số Không.

Bọn mình tới đây lúc còn sớm lắm. Bọn mình leo lên sân ga vắng ngắt và dạo bước bên một hàng lan can thấp gồm những thanh sắt nho nhỏ. Nhàn rỗi quá, bọn mình xoay ra đếm số thanh lan can. Ở chỗ có ghi chữ số thì thanh lan can hơi cao lên một chút, tiếp theo là chín thanh thấp hơn rồi lại đến một thanh hơi cao đối diện với số tiếp sau. Cứ như thế kéo dài mãi. Bọn mình dạo bước đã khá xa ga Số Không thì bỗng nghe phía sau có tiếng trẻ con khóc. Ngoảnh lại thì thấy hai em bé số Hai xinh xẻo đang ngồi bên cầu thang đánh số 2. Hai em mặc áo hoa đẹp lắm (nhất định mình cũng sẽ may một cái giống thế mới được) và đang khóc nức nở. Bọn mình chạy đến hỏi xem tại sao chúng khóc.

Một em nói:

– Mẹ ra cho chúng em một bài toán, nhưng chúng em không giải được.

Em kia nhắc lại:

– Chúng em không giải được! Rồi cả hai em bé lại khóc.

Những em bé đáng yêu quá! Mình thương chúng lắm. Mình hỏi đầu bài toán như thế nào. Bài toán kể cũng lạ: hai trừ ba nằng bao nhiêu? Hay các em nghe nhầm, phải là ba trừ hai chứ.

– Không, – em bé thứ nhất kêu lên, – ba trừ hai thì chúng em biết rồi.

– Như thế thì chúng em biết rồi, – em bé thứ hai cũng hưởng ứng ngay.

Bọn mình rất bực mình với cái bà mẹ đã làm khổ con vì những bài toán khủng khiếp như thế. Nhưng thật ra bà mẹ ấy không định làm khổ ai đâu. Bà ta chỉ đi đâu một lát rồi trở lại sân ga thôi.

Đó là một bà mẹ Số Hai rất dễ mến. Bà chào hỏi bọn mình niềm nở lắm. Xê va, hừ cái cậu Xê va ấy, chưa chi đã đề nghị bà kể cho nghe người ta xây đường một ray lơ lửng này như thế nào. Sao mà bất lịch sự thế! Mình đã khẽ giật áo cậu ta để ra hiệu. Nhưng bà Số Hai vui vẻ nhận lời ngay làm người hướng dẫn tham quan cho bọn mình. Bà giải thích:

– Cấu tạo của con đường này dính dáng trực tiếp đến những quy tắc mà cô sắp giảng cho hai đứa con sinh đôi kia của cô nghe đấy.

Bà dắt bọn mình trở về ga Số Không. Ở đây bọn mình thấy có một tấm bảng lớn trên có vô số nút ấn và phím bấm. Sao lúc nãy bọn mình không để ý tới cái bảng này nhỉ?

Ngoài nút ấn ra còn thấy có micro nữa.

Chắc cậu muốn biết những cái ấy dùng để làm gì? Lát nữa mình sẽ kể cặn kẽ.

Vừa rồi, mình đã nói đường ray này là một đường đặc biệt. Không có bảng giờ tàu, không có đường tàu tránh, không có bến tàu đỗ. Không có người lái tàu, người bán vé, người bẻ ghi …, thậm chí các đoàn tàu cũng chẳng có nữa cơ. Hành khách muốn đi, bất cứ lúc nào cũng có thể gọi một toa và đi đến bất cứ đâu tùy ý. Các ga ở đây không có tên mà ký hiệu bằng số. Cậu muốn đến ga số 2782 phải không? Thế thì chỉ việc ấn vào cái nút “gọi tàu” và xướng con số ấy vào micro. Lập tức ở ga Số Không sẽ xuất hiện một toa xe không màu sắc, hoàn toàn trong suốt, trong suốt đến nỗi cậu không nhận ra ngay được đâu. Cậu ngồi lên toa. Chỉ trong vài giây đồng hồ là đến nơi thôi.

Xê va mừng quýnh lên ngay:

– Hay lắm! Để cháu gọi một toa đến ga … hượm, ga nào nhỉ …, ga 75 chẳng hạn nhé!

Cậu ta ấn nút và gọi số. Một toa xe trong  suốt xuất hiện ở ga Số Không ngay lập tức. Xê va đã nhấp nhổm định nhảy lên, nhưng bà mẹ Số Hai đã nhanh tay kéo cậu ta lại.

– Chết! Cháu làm gì thế? – bà hoảng hốt kêu lên – Nhảy tót lên ngay thì làm sao mà tới được.

– Sao cơ? Có xa xôi gì đâu cơ chứ! Ga 75 thôi mà.

– Đã đành là ga 75. Nhưng toa sẽ không chạy về phía tay phải Số Không mà lại chạy về phía tay trái mất! Vừa rồi cháu vô ý gạt vào cái cần chuyển chiều mà.

Bà trỏ vào một dấu trừ rất lớn vừa bật sáng trên không trung ở bên trái Số Không đang lấp lánh.

– Cháu có biết đấy là cái gì không?

– Dấu trừ ạ.

– Không phải chỉ là một dấu trừ thường. Đây là tín hiệu mở đường đi về phía các số âm. Thế mà các cháu thì không bao giờ được bén mảng sang phía bên ấy cả.

– Tại sao lại như thế cơ chứ? – Bọn mình thất vọng hỏi.

– Vì những số âm là những số người ta tưởng tượng ra. Chỉ có những người tí hon như các cô mới được phép qua lại tự do về phía trái số không thôi.

– Như thế nghĩa là chúng cháu không bao giờ được sang bên ấy chứ gì?

Bà Số Hai mỉm cười:

– Cũng có thể sang được, có điều là muốn sang phía bên ấy thì các cháu phải dùng một loại xe đặc biệt, đó là óc tưởng tượng.

Bọn mình buồn xỉu ngay. Nhưng bà mẹ Số Hai bảo rằng cuộc du lịch tưởng tượng đó cũng lý thú chẳng kém cuộc du lịch thực chút nào hết. Điều đó dĩ nhiên chẳng hợp ý anh chàng Xê va của bọn mình rồi. Cậu ta liền nói:

– Những số tưởng tượng, những số không có thực thì cần quái gì cơ chứ?

Bà mẹ Số Hai nổi giận ngay:

– Sao cháu lại nói thế? Mà lại nói trước mặt trẻ con nữa chứ. Các con đừng có nghe anh ấy!

Hai cô bé Số Hai ngoan ngoãn quay ra phía khác.

Bà mẹ nói tiếp:

– Số âm rất cần. Cô sẽ giảng cho các cháu nghe ngay bây giờ. Các con, quay lại đây nghe cả một thể.

Hai cô bé rụt rè không dám hỏi.

– Mẹ ra cho các con bài toán: Hai trừ ba. Các con đã giải được chưa?

– Chúng con làm rồi, nhưng không giải được. – Em bé thứ nhất nói.

– Không giải được ạ! – Em bé thứ hai xác nhận.

– Mẹ sẽ chỉ cho các con cách làm vậy, – bà quay sang phía chúng tôi nói thêm, – lát nữa các cháu sẽ thấy đường ray của chúng ta không phải chỉ để cho tàu chạy, mà còn để người ta học làm nhiều phép tính với các con số nữa đấy.

Bà ấn vào nút, rồi nói khẽ vào micro:

– Hai!

Bên phải ga Số Không bật sáng lên dấu cộng và đối diện với Số Hai trên đường ray xuất hiện một toa xe, nhưng lần này không phải là toa trong suốt, không màu mà là một toa xe đỏ chói.

– Bây giờ ta sẽ trừ đi ba. Thoạt tiên hãy trừ một đã.

Bà Số Hai ấn nút, và toa tàu dịch về bên trái, đến ga 1.

– Lại trừ 1 nữa.

Lập tức toa tàu biến mất.

– Thấy chưa, không còn gì nữa nhé! Xê va reo lên.

– Sao lại không còn gì? – Bà Số Hai phản đối – Cháu thử nhìn kỹ xem nào.

Thì ra, ở ga Số Không quả thật vẫn còn một toa. Có điều là nó đã từ màu đỏ biến thành không màu và trong suốt. Thành thử bọn mình không nhận ra được.

Nhưng Xê va đâu có chịu lúng túng dễ như thế. Cậu ta gân cổ cãi:

– Vẫn thế thôi! Đồng ý là có một toa ở ga Số Không, nhưng số không là không có gì hết, là rỗng tuếch!

– Cháu lại nói bừa rồi! – Bà Số Hai tủm tỉm cười: – “Không” cũng là một số đấy.

– Dù thế nào đi nữa thì “không” vẫn nhỏ hơn “một”! – Xê va phát cáu. – Sao lại đem nó trừ đi một được?

– Rồi cháu sẽ thấy ngay thôi.

Nói xong bà Số Hai ấn nút.

Bên trái Số Không bật sáng lên dấu trừ. Trong nháy mắt, toa xe đã ở bên trái ga Số Không đối diện với số “trừ một”. Có điều bây giờ nó từ một ga không màu và trong suốt biến thành một toa màu xanh.

– Đáp số của các cháu đấy. Hai trừ ba bằng âm một.

2 – 3 = -1

Bây giờ các cháu hiểu số âm để làm gì rồi chứ?

Thật thà mà nói, bọn mình vẫn chưa hiểu tí gì hết. Chẳng qua đứa nào cũng khoái được xem các toa thay đổi màu nhanh như chớp mà thôi. Nhất là Xê va, cậu ấy hỏi:

– Cháu cũng làm được chứ?

Và chẳng cần đợi được phép, cậu ta ra tay ngay.

Thoạt tiên là ba trừ năm, được âm hai.

3 – 5 = -2

Rồi bảy trừ mười một, được âm bốn.

7 – 11 = -4

Mình với Ô lếch cũng làm thử mấy lần. Lần nào bên trái Số Không cũng đều bật sáng dấu trừ, và toa xe màu đỏ sau khi chạy ngang qua Số Không cũng đều biến ngay thành màu xanh và dừng lại trước một số âm nào đó.

Ô lếch lên tiếng:

– Thú vị quá! Năm trừ ba được hai mà ba trừ năm cũng được hai, chỉ khác ở cái dấu âm thôi. Vậy đem một số nhỏ trừ một số lớn cũng chẳng khác gì đem một số lớn trừ một số nhỏ. Chỉ cần thêm dấu âm đằng trước hiệu số trừ mà thôi. Dĩ nhiên, – cậu ta nói tiếp – dấu âm dấu dương trong trường hợp này không giống dấu phép trừ và dấu phép cộng chút nào cả.

Bà Số Hai liền khuyên:

– Cháu đừng hấp tấp, muốn khỏi nhầm cô khuyên các cháu lúc đầu đừng viết dấu âm và dấu dương ở bên trái các số mà viết ở bên trên. Như thế này này.

Bà mẹ Số Hai định giảng giải tiếp thì đúng lúc ấy Xê va làm luôn một tràng hắt hơi: “Hắt xì hơi! Hắt xì hơi! Hắt xì hơi! …”. Cái cậu này chuyên môn có những cử chỉ khiếm nhã, lúc thì cười hô hố, khi lại hắt xì hơi ầm ĩ. Cậu ấy rút khăn mùi soa ra lau mũi, thế là cái vỏ đậu bị rơi ra theo. Bọn mình đứa nào cũng buồn xỉu xuống, vì lại sực nhớ đến Người Mặt nạ Đen. Nếu sự tình cứ như thế này mãi thì người ấy đến bị phù phép suốt đời mất thôi.

Bỗng Pôn sích từ đâu phóng như bay về. Vừa chạy nó vừa hoảng sợ sủa ầm ĩ. Có ai đó đang đuổi nó. Người ấy chạy nhanh lắm, đến nỗi bọn mình không kịp nhìn rõ mặt nữa. Chạy ngang qua tấm bảng, người lạ mặt ấn cái nút, quát vào micro rồi nhảy phóc lên một toa xe. Qua khung cửa sổ chợt ló ra một cái mặt bị che một nửa sau tấm mặt nạ đen. Toa xe vụt biến đi.

Xê va hét toáng lên:

– Giữ hắn lại! Đích hắn rồi! Đích hắn rồi!

Bọn mình nhảy bổ đến bên tấm bảng để gọi một toa xe khác đuổi theo. Nhưng ngay lúc ấy cái vỏ đậu vụt bay lên và cứ quay tít như chong chóng trước mặt bọn mình làm cho bọn mình không tài nào ấn được cái nút gọi xe nữa. Bọn mình cố xua nó như xua ruồi mà nó vẫn cứ quay, quay tít…

Ô-lếch thở dài nói:

– Nó không muốn chúng mình đáp xe đuổi theo Người Mặt Nạ đen đấy.

Dù muốn hay không bọn mình cũng phải nghe lời nó. Vỏ đậu yên ngay, và Xê va lại cất nó vào túi. Bà mẹ Số Hai tỏ ra rất bình thản trước biến cố này. Thậm chí bà cũng chẳng buồn hỏi lí do vì sao có chuyện nhốn nháo như thế. Bà chỉ nói bâng quơ:

– Rau quả có vụ chứ!

Rồi bà bỏ đi, sau khi hứa với bọn mình là chỉ đi một lát thôi và bà sẽ trở lại giảng cho bọn mình nghe về quy tắc vận hành trên con đường một ray này. Thế là bọn mình vẫn chưa rõ câu nói của bà nhằm vào ai, cái vỏ đậu hay Người Mặt Nạ đen!

Rồi đây thế nào, chờ thư sau cậu sẽ rõ. Nhưng từ nay cậu phải cư xử cho ra người đứng đắn đấy. Đừng quên rằng, bây giờ cậu không phải là chú bé Số Không quèn nữa đâu, mà là một đội viên chính thức của đội KBL đấy nhé!

Ta nhi a

 

Những người phàm ăn

(Xê va gửi Số Không)

Chào bạn Số Không! Hẳn cậu đang nóng lòng muốn mình sẽ kể chuyện ngay về Người Mặt Nạ đen. Nhưng hiện giờ bọn mình chưa có tin tức gì về hắn cả. Đúng như người ta nói, chưa phát hiện được một dấu vết nào.

Nói chung, ở đây không có vẻ gì là bí mật cả. Thì ra nước Tí Hon và nước An giép là hai nước anh em. Mình lấy làm lạ là sao cậu không biết chuyện đó nhỉ?

Đây, mình sao lại một tài liệu gửi về cho cậu. Những tài liệu loại này thì ở An giép nhan nhản, hầu như trên mỗi cây cột đều có treo cả.

Đây, cậu xem:

Mình không chép vào đây những điều viết tiếp theo đó, vì phải để cả một ngày may ra mới chép xong. Thực ra, mất đến một tuần lễ mình cũng chẳng tiếc nếu như những cái ấy có quan hệ đến Người Mặt Nạ đen. Nhưng của đáng tội, Người Mặt Nạ đen cần quái gì đến những cái ấy cơ chứ?

Đi đến đâu cũng chạm trán với những người tí hon: Họ đi dạo chơi từng tốp từng tốp, có đếm cũng không xuể. Thì ra ở đây cũng có nhiều dân cư sinh sống.

Bọn mình vừa đến thăm một xóm người tí hon có cái tên rất ngộ: xóm “Những người phàm ăn”. Ở đây quả thật toàn những người thích ăn quà kinh khủng: ai cũng nhai tóp tép suốt ngày.

Xóm chỉ có độc nhất một phố, nhưng mỗi dãy phố có một tên riêng “Những người phàm ăn trung bình cộng” và “Những người phàm ăn trung bình nhân”.

Lúc đầu bọn mình không chú ý đến chuyện đó. Nhưng sau mới biết dân ở hai dãy khác xa, tuy cả hai đều đon đả chào mời bọn mình.

Vả lại bọn mình đã đói ngấu cho nên chẳng tội gì mà từ chối.

Bọn mình ghé vào dãy trung bình cộng trước. Thật là một sai lầm nghiêm trọng. Ở đây người ta chỉ chuyện trò suông với bọn mình chứ chẳng có mời ăn uống lấy một chút gọi là có. Cuối cùng, quả tình họ cũng cảm thấy bất tiện thế nào ấy, nên họ đã phải phân trần sự tình với bọn mình.

Rõ ràng là tất cả mọi người ở đây đều làm việc. Có người làm giỏi, có người làm xoàng, có người làm nhiều, có người làm ít. Nhưng họ không để ý đến chuyện đó: họ cứ gộp chung cả lại rồi chia đều, ai cũng như ai. Ví dụ một người trồng được bốn cân dưa chuột, một người khác thu hoạch được chín cân dưa. Tổng cộng là mười ba cân. Mười ba đem chia đôi. Thế là mỗi người được sáu cân rưỡi. Dĩ nhiên là không phải chỉ có hai người mà có nhiều người lắm. Nhưng dù bao nhiêu người thì họ cũng gộp chung số thu hoạch rồi chia đều, và người nào cũng ăn hết phần của mình không sót một mẩu. Thế thì còn đào đâu mà đãi khách nữa cơ chứ! Kể ra cũng có thể để dành một tí chút. Nhưng khốn nỗi họ lại là những người phàm ăn!

Sau cuộc tiếp đón đó, bọn mình chẳng mặn mà với những người phàm ăn trung bình nhân nữa. Nhưng rồi bọn mình cũng thử xem sao, và lần này được bên ấy mời chén một bữa ra trò!

Bọn mình không hiểu ra sao cả, bèn hỏi:

– Có lẽ các bạn chia không được đều chăng?

Họ đáp:

– Không, chúng tôi cũng chia đều.

– Như thế chắc các bạn không phàm ăn?

– Không, chúng tôi cũng là những kẻ phàm ăn.

– Thế các bạn lấy đâu ra của thừa mới được chứ?

Họ liền cắt nghĩa cho bọn mình rõ. Thì ra họ không cộng các sản phẩm mà lại nhân chúng lên. Dĩ nhiên là nhân số lượng sản phẩm.

Chẳng hạn, một người trồng được 4 cân dưa chuột, một người khác trồng được 9 cân.

4×9 = 36

Chắc cậu nghĩ sẽ phải đem ba mươi sáu chua cho hai chứ gì? Không phải thế đâu. Những người phàm ăn trung bình nhân làm theo cách của họ. Họ không chia mà khai căn tích số vừa tìm được. Đúng thế đấy, cậu đừng lấy làm lạ: Số nào cũng đều có căn cả, và ta có thể khai căn mọi sô. Chuyện này, dạo trước bạn Số Ba xách va li ở đại lộ Dấu phép tính đã kể cho bọn mình nghe. Chính các dấu này đã rơi tung tóe ra hè phố lúc Số Ba đánh rơi va li đấy.

Cậu nhân ba với ba, được chín. Cậu có biết như thế là cậu vừa làm việc gì không? Cậu đã nâng ba lên lũy thừa bậc 2 đấy. Nếu muốn nâng ba lên lũy thừa bậc ba thì cậu phải nhân nó với nó ba lần. Sẽ được hai mươi bảy. Lũy thừa bậc năm của ba là hai trăm bốn mươi ba cơ …

Cứ theo cách ấy có thể nâng một số lên lũy thừa bậc một trăm, bậc hai trăm và bậc bao nhiêu cũng được.

Bây giờ mình hỏi cậu nhé: cần nâng số nào lên lũy thừa bậc hai để được chín? Tất nhiên là số ba. Ba chính là căn bậc hai của chín đấy.

Thành ra, khai căn là phép tính đảo ngược của nâng lên lũy thừa. Hệt như phép trừ là phép tính đảo ngược của cộng, chia là phép tính đảo ngược của nhân vậy.

Thế là, những người phàm ăn trung bình nhân khai căn bậc hai số ba mươi sáu. Được sáu.

Mỗi người nhận sáu cân dưa chuột. Phần chia còn ít hơn bên trung bình cộng một chút nhưng thừa ra một cân để dành.

Mình bèn thắc mắc là thực ra không phải chỉ có hai người mà có nhiều người. Họ cho biết là chẳng hề gì, cứ việc nhân số cân do từng người thu hoạch được với nhau …

– Rồi các bạn cũng khai căn bậc hai chứ gì? – Mình ngắt lời họ.

– Sao lại thế? – Những người phàm ăn tỏ vẻ bực mình, – có bao nhiêu người thì chúng tôi sẽ khai căn bậc bấy nhiêu chứ!

Ta nhi a săn đón hỏi họ biểu diễn phép tính đó như thế nào.

Như thế nào à? Cũng đơn giản thôi: dùng một cái dấu hình móc giống một cái vợt bắt bướm, gọi là dấu căn. Có điều là, đậu ở phía trên vợt không phải là một con bướm mà là một số biểu thị của căn. Người ta gọi số ấy là chỉ số của căn.

\sqrt{36}=6

Nếu có bốn ngươi phàm ăn thì khai căn bậc 4:

\sqrt[4]{A}

Thế có một trăm linh bốn người thì sao? Thì căn sẽ biến thành căn bậc một trăm linh bốn

Chắc cậu muốn biết, tại sao khi khai căn bậc hai người ta lại không viết số hai ở trên dấu căn? Tại sao à? Chẳng qua chỉ là quy ước thôi.

Qua những điều mắt thấy ở xóm của những người phàm ăn, mình với Ta nhi a hiểu rằng trung bình cộng bao giờ cũng lớn hơn trung bình nhân. Nhưng Ô lếch lại lập luận rằng không nhất thiết như thế. Ví thử tất cả mọi người trong xóm này đều thu hoạch được số lượng sản phẩm như nhau thì trung bình nhân và trung bình cộng là hoàn toàn bằng nhau. Cậu chưa tin à? Lúc đầu mình cũng không tin. Nhưng Ô lếch đã chứng minh đàng hoàng.

Này nhé, giả sử hai người đều thu hoạch mỗi người được tám cân dưa chuột. Trung bình cộng sẽ là:

\frac{8+8}{2}=8

Và trung bình nhân là:

\sqrt{8*8}=8

Ô lếch thánh thật!

Những người phàm ăn trung bình nhân cứ khẩn khoản giữ bọn mình ở lại. Mà bọn mình cũng chẳng muốn chia tay những người chủ mến khách như họ. Nhưng cái vỏ đậu trong túi Ô lếch đã cựa quậy dữ đến nói bọn mình đành phải từ biệt họ.

Mọi người đổ xô ra đường tiễn bọn mình. Ai nấy mang theo đủ thứ: người cho cà chua, kẻ biếu táo… Ngon nhất là bánh ga tô. Thật đáng tiếc là cậu không được nếm thử! Nhưng họ cho bọn mình không đều. Ô lếch được bốn cái, Ta nhi a được hai, còn mình chỉ được mỗi một cái. Cố nhiên là mình không khóc vì được ít. Nhưng tự các cậu ấy quyết định sẽ chia đều cho công bằng.

Thoạt tiên bọn mình thử chưa theo kiểu những người phàm ăn trung bình cộng. Bọn mình cộng số bánh lại.

4+2+1 = 7

Rồi đem bảy chia cho ba. Mỗi người được hai cái bánh và một phần ba cái bánh nữa. Hơi bất tiện vì bọn mình không có dao. Vả lại, dù có sãn dao thì cũng vẫn phiền vì khó mà chia được một cái bánh thành ba phần đều nhau. Với lại, còn Pôn sích thì sao? Nó bé thật đấy, nhưng cũng phải có phần cho nó chứ?

Thế là bọn mình quyết định sẽ tính trung bình nhân.

Trước hết, bọn mình nhân số bánh với nhau

4x2x1 = 8

Rồi khai căn bậc ba của tám:

\sqrt[3]{8}=2

Như vậy mỗi người có hai cái bánh. Còn thừa một cái cho Pôn sích.

Nói chung, thời gian trôi qua không phải là vô bổ. Nhưng mình vẫn áy náy trong lòng. Bởi lẽ rằng bọn mình đến đây đâu phải vì mấy tấm bánh mà vì Người Mặt Nạ đen chú! Thế mà người đó vẫn bặt tin.

Bận sau chẳng có kẹo bánh nào dỗ ngon dỗ ngọt được mình chui vào cái đường hầm dở điên dở dại ấy đâu.

Chúc cậu mạnh khỏe.

Xê va,

Chặng đường hành quân

Người mặt nạ đen ở nước An giép

Черная маска из Аль-Джебры

Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

NHỮNG BỨC THƯ

Chặng đường hành quân

(Ô lếch gửi Số Không)

Số Không thân mến!

Cậu thấy bọn mình giữ đúng lời hứa chưa? Có điều là bọn mình sẽ thay phiên nhau viết cho cậu. Lúc đầu đã định viết chung, nhưng suýt nữa thì cãi nhau to.

Chẳng là xưa nay bọn mình chưa viết chung thư bao giờ. Cho nên cuối cùng phải thỏa thuận với nhau là cứ viết riêng thôi. Nhưng lại xảy ra chuyện tranh cãi là để ai viết trước bây giờ. Đành rút thăm vậy. Kết quả là mình trúng đầu tiên.

Bây giờ mình kể cho cậu nghe từ đầu nhé.

Đường hầm hẹp và dài dằng dặc. Mới đầu bọn mình còn soi đường bằng đèn pin, nhưng chẳng mấy chốc đèn cũng tắt ngấm vì Xê va quên không thay pin. Biết làm thế nào được, ai cũng có lúc vô tâm …

Thật thà mà nói, bọn mình đứa nào cũng hoảng. Tối như hũ nút, cứ phải dò dẫm từng bước một.

Chẳng biết đi mò như thế bao nhiêu lâu. Nhưng mình có cảm giác như là lâu vô tận. Và cậu có thể hình dung bọn mình mừng đến chừng nào khi thấy phía xa xa lóe lên ánh sáng ban ngày rực rỡ.

Trong khoảnh khắc, một trận cuồng phong khủng khiếp nổi lên. Bây giờ bọn mình không phải là đi nữa, mà chạy như bay. Bọn mình bị đẩy xềnh xệch về phía trước, Tưởng chừng như bọn mình đang lao vùn vụt trong lòng một cái ống khổng lồ, và sau lưng, ở phía cuối ống có một người khổng lồ – như người khổng lồ trong truyện cổ tích “Chú bé với cây gậy thần” ấy mà – đang phùng mang trợn mắt thổi thật lực.

Mình nghe nói người ta cũng thử máy bay như vậy đấy: Người ta giữ chặt máy bay trong một cái ống khổng lồ, rồi thổi một luồng không khí cực mạnh qua ống. Nếu máy bay không bị gãy thì tức là khi nó bay thật sẽ không xảy ra chuyện gì.

Dù sao, bọn mình cũng đã chịu được thử thách: bọn mình được thổi bật ra ngoài đường hầm bình yên vô sự. Không nói chắc cậu cũng hiểu bọn mình vui mừng như thế nào khi lại thấy được lên mặt đất. Ánh nắng ban mai làm bọn mình nheo mắt lại, chẳng phân biệt được cái gì nữa. Nhưng rồi sau thì …

Chẳng phải mình muốn làm cậu thất vọng đâu, nhưng rồi sau thì bọn mình cũng vẫn chẳng thấy cái gì đặc biệt cả. Thậm chí, bọn mình đã tưởng trong lúc dò dẫm dưới đường hầm tối ôm không chừng bọn mình đã đi lạc mà quay trở lại nước Tí hon. Trước mắt bọn mình là một con đường rất giống con đường từ A ra ben la dẫn đến cửa hang.

Nhưng bỗng Xê va (cậu cũng biết cậu ta thích đọc các biển như thế nào rồi đấy!) ngẩng đầu lên và xướng to:

XIN MỜI ĐẾN THĂM AN GIÉP

Thế là mình với Ta nhi a cũng nhìn lên dòng chữ kỳ lạ đó. Những chữ cỡ lớn nhiều màu sắp xếp theo hình cầu vồng trên không trung mời khách đến thăm cái nơi An giép khó hiểu nào đó. An giép là gì? Một thành phố hay một nước? Và bọn mình sẽ đến đó bằng cách nào nếu trong tay không có lá bùa thần?

Thật tội nghiệp cho cái vỏ đậu đáng thương! Bọn mình đã nói những câu bất nhã về nó. Nhưng chỉ phí hơi vô ích, vì suốt thời gian ấy cái vỏ đậu vẫn nằm gọn trong túi mình. Mình mừng rỡ biết bao khi sờ thấy nó cùng với bức thư mật mã trong túi!

Bây giờ có thể nghĩ đến Người Mặt Nạ đen và khởi công tìm kiếm nhưng Pôn sích chạy đằng nào rồi? Bọn mình gọi nó mãi, sục tìm khắp các bờ bụi mà vẫn không thấy. Chẳng lẽ nó chui xuống đất sao? Xê va thì cứ khăng khăng cho là Pôn sích còn ở dưới đường hầm và suýt nữa bọn mình đã nghe theo cậu ấy trở lại tìm.

Nhưng vừa quay gót thì cái vỏ quả đậu trong túi mình cựa quậy dữ lắm. Khi mình thò tay vào túi định giữ cho nó nằm yên thì nó dùng cái cuống nhọn châm vào tay mình một cái. Hình như nó không ưng đề nghị của Xê va và chỉ chực bỏ đi. Làm thế nào bây giờ đây?

Bọn mình bàn nhau cứ tiếp tục đi nữa. Thế mà đúng, vì cái vỏ đậu lập tức nằm yên ngay. Có lẽ nó đã biết trước rằng, không đầy năm phút sau Pôn sích từ đâu dưới một cái rãnh nhoi lên, phóng đến chỗ bọn mình và liếm lấy liếm để hết người này đến người khác.

Số Không ơi, cậu thấy đấy, không việc gì phải sốt ruột cả. Lát nữa, anh chàng đưa thư của cậu sẽ ba chân bốn cẳng chạy đi hoàn thành công vụ đầu tiên của nó. Bây giờ thì tạm biệt nhé. Anh em gửi lời chào cậu.

Ô lếch.

Truy tìm

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

Trời đã chập choạng tối.

A ra ben la bắt đầu lên đèn.

Bọn trẻ ngồi bên lề con đường cái dẫn tới khu thành lũy hoang tàn của La Mã, buồn rầu nhìn cái vỏ đậu rỗng không.

Bất thình lình, một cơn gió nổi lên cuốn lấy cái vỏ đậu và thổi nó bay dọc theo đường cái.

– Giữ lấy nó! Giữ lấy nó! – mọi người hét lên và nhảy bổ theo cái vỏ đậu.

Họ cắm cổ đuổi.

Nhưng cái vỏ đậu bị gió cuốn đi nhanh đến nỗi họ không sao vồ được.

Tựa hồ như nó muốn trêu ngươi mấy nhà thám tử: Nó dừng lại đợi họ đến gần rồi lại vụt phóng đi ngay trước mũi họ.

Trời đã tối mịt thế mà những nhà “khám phá các bí mật lớn” gan dạ vẫn cứ đuổi hoài theo lá bùa ranh ma. Trong lúc vội vã, chẳng có ai trong số họ nhận ra một điều rất lạ là cái vỏ đậu đang tỏa ra một làn ánh sáng xanh nhạt.

Bỗng cái vỏ đậu rẽ ngoặt và dừng lại bên một tảng đá lớn. Đây chính là cái hang mà Số Không đã gặp Người Mặt Nạ Đen bữa trước. Các nhà thám hiểm đã mệt phờ liền chạy tới cửa hang.

Lúc này cái vỏ đậu chẳng buồn chạy trốn nữa. Nó nhẹ nhàng đung đưa ở phía trên cửa hang mà bọn trẻ vẫn cứ vồ hụt.

Số Không không nén được cơn giận. Chú quát ầm lên:

– Này, đừng chơi xấu như thế nhé! Anh muốn gì ở chúng tôi chứ?

Thế là, dường như để đáp lại lời trách cứ của Số Không, cái vỏ đậu liệng một vòng trên đầu các khán giả đang mệt rũ rồi chui tọt vào hang, Pôn sích liền rượt theo và sủa váng lên.

Xê va ráng hết sức hét to:

– Pôn sích, quay lại đây!

Nhưng Pôn sích không quay lại. Tiếng sủa của chú cún phản hồi qua vòm hang vọng lại, cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút.

Xê va bèn quay ra gây sự với Số Không:

– Mày làm cái trò gì thế? Sao lại quát tướng lên? Đấy là cái vỏ đậu có phép lạ cơ mà!

Ô lếch vội dàn hòa:

– Số không làm thế mà đúng đấy. Cậu ấy hỏi cái vỏ đậu muốn chúng ta làm gì.

– Thế mà vỏ đậu lại giận dỗi bỏ đi.

– Vỏ đậu có giận dỗi gì đâu. Nó muốn ra hiệu cho chúng ta biết cần phải làm gì đấy chứ.

Ta nhi a hoảng hốt, tròn xoe mắt nhìn Ô lếch:

– Sao? Chúng mình phải chui xuống hang à?

– Dĩ nhiên là phải xuống hang, nếu chúng mình muốn khám phá điều bí mật của người Mặt Nạ Đen.

Xê va lấy tay vỗ vỗ vào trán. Cậu ta có thói quen như thế mỗi khi phải nhớ lại hay phải suy nghĩ điều gì.

– Mình thật là ngốc! Chó thì rượt theo mồi mà chủ còn cứ đứng ì ra nghĩ!

– Sao, ta đi chứ? – Ô lếch hỏi và liếc nhìn Ta nhi a. Cô bé ngập ngừng tí chút, nhưng cũng gật đầu quả quyết:

– Ừ, thì đi!

Bỗng Số Không khóc tru lên. Bọn trẻ hoảng sợ chạy lại. Có chuyện gì thế? Nó bị thương ư? Hay nó có điều gì phật ý? Hay nó sợ xuống hang?

– Không phải, không phải! – Số Không vừa nức nở vừa quệt nước mắt trả lời cứng cỏi.

Ta nhi a rút khăn mùi soa ra lau mắt, chùi mũi cho chú bé. Cô chợt nhớ đến mẹ Số Tám của nó và lập tức hiểu hết sự tình.

– Bọn mình phải đưa cậu về thôi, không thể nào làm khác được.

– Không đồng ý đâu, không đồng ý đâu! – Số Không càng gào to.

– Thôi nín đi! – Ta nhi a dỗ dành. – Bọn mình trở về sẽ kể hết cho cậu nghe.

Nhưng Số Không vẫn không nguôi. Nó nức nở:

– Vâ… âng! Nhưng mình sốt ruột không sống nổi mà chờ đến lúc ấy đâu.

Ô lếch liền nói:

– Không sao, trên đường đi bọn mình sẽ viết thư về cho cậu.

– Thư sẽ kể mọi chuyện tỉ mỉ chứ?

– Ừ, thật tỉ mỉ.

– Nhưng làm sao giữ được bí mật? Các cậu quên rằng ở nước Tí hon, thư gửi đến, ai cũng nhận được à?

– Cứ yên trí, thư sẽ đưa đến tận tay cậu, – Xê va hứa.

– Làm thế nào đưa tận tay được cơ chứ? – Số Không tỏ vẻ chú ý hé một mắt ra nhìn.

– Pôn sích sẽ mang thư đến cho cậu.

Số Không mừng quá, mắt ráo hoảnh ngay lập tức. Nó khoái chí cất tiếng hát:

– Pôn sích là người đưa thư, Pôn sích là người đưa thư!

Nhưng rồi nó sực nhớ ra:

– Thôi, các cậu nhanh nhanh lên, kẻo lại không đuổi kịp cái vỏ đậu đâu.

Bọn trẻ chia tay chú bạn nhỏ của mình và đi khuất vào hang.

Giờ đây, trơ trọi một mình, Số không lại thấy buồn. Nó đứng thần ra một lúc rồi cắm cổ chạy về nhà.

Bí mật của vỏ quả đậu xanh

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

Mọi chuyện đã xảy ra không hoàn toàn như ý muốn của Số Không.

Nó yêu cầu phải mở cái vỏ quả  đậu trong một khung cảnh hết sức bí mật: đúng lúc nửa đêm các nhà thám hiểm phải tụ họp ở một nơi thật hẻo lánh. Mọi người đều phải đeo mặt nạ đen và khoác áo choàng nhung. Mỗi người phải mang theo một chiếc đèn bão nhỏ cắm nến ở trong …

Tất nhiên đó là một kế hoạch hay không chê được, nhưng kế hoạch ấy đã sụp đổ ngay từ đầu như một tòa nhà xây trên bãi cát vậy.

Một là, như các bạn đã thấy, tuy Số Không chẳng có điều gì phải “nhưng” cả, nhưng nó có mẹ. Thế là giờ hẹn tự nhiên phải chuyển từ mười hai giờ đêm lên tám giờ tối. Vấn đề áo choàng cũng không xong. Các bạn học sinh không khoác áo choàng nhung mà lại khoác áo mưa. Cả vấn đề đèn bão cũng chẳng thành: Đáng lẽ phải có ba cái đèn thì lại chỉ có độc một cái, mà lại là đèn pin chứ không phải đèn nến.

Số Không đã cắn răng chịu đựng nỗi thất vọng đắng cay ấy, và mãi đến lúc đặt tên cho đội thám hiểm thì nó mới được đền công xứng đáng.

Bọn trẻ đề nghị khá nhiều tên: nào là “Bí mật của Người Mặt Nạ đen”, nào là “Những hiệp sĩ của vỏ quả đậu xanh”, nào là “Những người săn tìm cái mặt mất tích” …

Nhưng Số Không chẳng ưng tên nào cả. Nó đề nghị đặt tên cho đội là “Người khám phá những bí mật lớn”. Sung sướng cho nó biết bao, người ta đã nhất trí chọn cái tên này và quyết định gọi tắt là đội KBL cho tiện,

Và giờ có thể bắt tay vào công việc chính được rồi.

Số Không rút lá bùa trong túi ra. Nó thở dài thườn thượt vì nó chẳng muốn từ nay phải li biệt với lá bùa. Nhưng lời hứa còn quý hơn tiền bạc! Nó trao vỏ quả đậu cho Ô lếch. Ô lếch ấn ngón tay cái vào đường sống của vỏ đậu, thế là cái vỏ quả đậu tách đôi ra.

– Các cậu xem này, có một mảnh giấy!

– Thế hạt đậu đâu?

– Ừ nhỉ, hạt đậu đâu? – Số Không săn đón hỏi.

– Hượm nào, bây giờ không phải là lúc hỏi hạt đậu. Ta hãy xem trong mảnh giấy viết những gì đã. – Xê va nhanh nhảu giơ mảnh giấy được cuộn tròn lại thành một cái ống.

Và đây là những dòng chữ viết trên mảnh giấy:

“UMSCỤ UMIO TỚ LMTPH ÂO NP,U QLDO CĂ TỚ IẬU DVẲ UPK, SPK OỐ MCÁ ULIN IAK IPCD CPO IAU OXA TAU EO UPK CK NCU OXA TO IAU DOO MAK, OMAPH TO LMTPH UTA MAK UPK NPU OXA TO IAU OO XXA MCA, TAU EO UPK MAK DKO EK IAK IAU, DOO NPU IAU DXQK DXOH CK HLO ULQK CAA NCU IOK  UPK DO CAO OMOKU IAU XO  RVA ECU”

– Lạ nhỉ, dù là tiếng nước nào thì mỗi từ cũng phải có nguyên âm và phụ âm chứ. Thế mà ở đây lại có những từ toàn phụ ấm. Ví dụ “LMTPH” hay “DXQK”. Phát âm thế nào được nhỉ? Còn trong những từ này thì tuy có nguyên âm mà cũng như không có “QLDO”, “IPCD”

Số Không pha trò:

– Thế mà trong tiếng của bọn mình có từ DPCM đấy!

– Theo ý mình thì không thể nào nói được thứ tiếng này! – Ta nhi a phát biểu.

Ô lếch mỉm cười một cách khó hiểu:

– Chẳng ai nói được hết, vì nói chung chẳng làm gì có thứ tiếng này.

Ta nhi a liền trỏ vào mảnh giấy:

– Thế thì đây là cái gì?

– Là một bức thư viết bằng mật mã.

– Tuyệt quá! – Xê va thở phào nhẹ nhõm – Sao mà cậu thông minh thế!

– Cậu chớ vội mừng, – Ta nhi a ngắt lời. – Phải mở được mật mã rồi mới đọc được thư chứ.

– Nói mép thì dễ thôi. Nhưng tìm đâu ra chìa khóa mật mã bây giờ?

Bọn trẻ ngồi thừ ra suy nghĩ.

Mọi chuyện bắt đầu xem chừng cũng thuận lợi. Nhưng bây giờ thì thật là hóc búa!

Buồn phiền nhất là Xê va. Chưa chi cậu ta đã mơ thấy mình trở thành một thám tử lừng lẫy, khám phá ra bí mật của Người Mặt Nạ Đen. Thế mà hết thảy đều tan ra mấy khói. Ngay cả con chó săn Pôn sích cũng chẳng đỡ đần được cậu ta tí gì.

À, mà nó lẻn đi đâu rồi nhỉ?

– Pôn sích, Pôn sích, về ngay!

Con Pôn sích lon ton chạy về, ve vẩy cái đuôi đến là hiền lành. Mõm nó ngậm một mảnh giấy gì trăng trắng. Hay Người Mặt Nạ Đencó tin tức gì mới chăng? Nhưng không, đấy vẫn chỉ là bức điện của Số Không mà Xê va đã vô ý đánh rơi ở dọc đường. Đang lúc cáu tiết, Xê va vò nát mảnh giấy quăng đi.

Ô lếch vội nhặt lên, vuốt lại tờ giấy cho phẳng phiu. Cậu ta ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi:

– Các cậu này, ở cuối một bức điện người ta thường viết từ gì nhỉ?

Số Không mừng rỡ đáp:

– Số Không!

– Bức điện do cậu gửi thì mới viết như thế. Nhưng trong một bức điện bất kỳ khác thì sao?

Ta nhi a liền nói:

– Dĩ nhiên người ta ký tên mình chứ còn gì nữa.

– Như vậy bức điện này cũng kết thúc bằng tên ký chăng?

– Dù đúng như thế đi nữa thì chúng ta vẫn không biết tên người ấy là gì cơ mà.

– Nhưng chúng ta biết tên người ấy bao gồm 8 chữ cái: “XỔ RVẢ ECỰ”

– Vậy ai là người ký tên vào bức điện này?

Số Không vội đoán:

– Mình biết! Người Mặt Nạ chứ không sai!

– Không phải “Người Mặt Nạ” gồm những mười chữ cái cơ.

– Không phải “Người Mặt Nạ” thì ắt là “Vỏ quả đậu” – Ta nhi a nêu ý kiến

– Được đấy, cũng đúng 8 chữ cái

Ô lếch rút bút chì ra và ghi vào mặt sau bức điện cái tên ký bằng mật mã và ở đưới có ghi “Vỏ quả đậu”

– Tuyệt chưa! Thế là bây giờ chúng ta biết được tám chữ cái trong mật mã này: X là V, Ô là O, R là Q …

Bọn trẻ liền thay những chữ này vào các từ, còn những chữ chưa đoán được thì đánh dấu chấm.

Chữ X bị phù phép

Người mặt nạ đen ở nước An giép

“Черная маска из Аль-Джебры”
Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

ĐOẠN MỞ ĐẦU

Trở lại nước Tí hon

Trước mặt nó là một giống gì kỳ quái, khoác một tấm áo choàng bằng nhung đen, để lộ hai cẳng chân khẳng khiu ở phía dưới. Trên mặt hắn ta bịt một tấm mặt nạ đen.

– Eo ôi! Tôi sợ quá! – Số Không thốt lên. – Mặt anh đâu?

– Ở đằng sau cái mặt nạ.

– Thế thì anh quẳng cái mặt nạ đi cho rảnh, – Số Không đã hơi hoàn hồn và lại hé mắt nhìn người lạ mặt.

Người đó thở dài:

– Không thể được. Tôi đã bị phù phép và cứ phải đeo cái mặt nạ này mãi cho đến khi nào có người khám phá được điều bí mật của tôi.

Điều bí mật ư? Số Không sửng sốt khoa tay. Nó sôi nổi nói:

– Tiếc quá. Giá chúng ta gặp nhau sớm hơn thì hay biết mấy! Tôi rất thích khám phá những điều bí mật.

Người Mặt Nạ đen nghiêng mình cảm tạ:

– Thế thì may mắn cho tôi biết bao! Nhưng cũng phải báo trước với cậu rằng, điều bí mật của tôi không dễ khám phá đâu. Cậu có sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại sẽ gặp hay không?

– Khỏi phải hỏi! Tôi sẵn sàng vượt qua tất cả. Nhưng …

– Sao? Cậu chưa bắt tay vào việc mà đã “nhưng” rồi ư?

Số Không đâm hoảng:

– Đâu nào! Tôi có điều gì phải “nhưng” đâu. Nhưng … còn mẹ tôi …

– Thôi, đừng nói thêm nữa! Không bao giờ tôi cho phép mình gây đau buồn cho mẹ cậu cả. Vĩnh biệt câu.

Người lạ mặt buồn rầu cúi chào Số Không rồi quay gót lui vào hang sâu. Người đó sắp sửa đi khuất thì Số Không vội năn nỉ:

– Khoan hãy đi! Xin anh khoan hãy đi! Chẳng là tôi còn các bạn của tôi nữa. Đấy là mấy bạn học sinh. Tôi đã kết thên với họ hồi tôi ở nước Tí Hon.

– A! Thế thì cũng chưa đến nỗi thất vọng, – Người mặt nạ mừng rỡ. Nhưng rồi người đó lại áy náy hỏi ngay: – Nhưng liệu có thể trông cậy vào họ được không?

– Tôi thế nào thì họ cũng thế, – Số Không cam đoan.

– Được, thế thì cậu hãy nghe tôi nói đây. Tôi sẽ trao cho cậu một lá bùa. Các cậu phải dùng lá bùa này giải phép ma và lấy lại cho tôi cái mặt. Cậu hãy nhắm mắt lại và chìa tay ra nào.

Số Không rất muốn được nhìn thấy rõ chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng giữ đúng lời hứa, nó nhắm nghiền mắt lại. Nó thấy một vật gì dài dài, khẳng khiu đặt vào lòng bàn tay mình. Và giọng nói khàn khàn lại cất lên:

– Lá bùa này, chỉ khi nào các bạn cậu tới, cậu mới được mở ra. Bây giờ xin tạm biệt cậu. Và cậu phải nhớ đinh ninh rằng từ nay trở đi số phận của tôi đã ở trong tay cậu đấy.

Khi Số Không mở mắt ra thì người Mặt Nạ Đen đã biến mất. Trên lòng bàn tay nó, còn lại một … cái vỏ đậu! Cái vỏ quả đậu xanh.

Số Không rất thích đậu xanh. Cứ như mọi khi thì nó đã bẻ vội ra chén ngay chẳng nghĩ gì. Nhưng cái vỏ quả đậu nàu lại quyết định số phận của một người … Nó ngắm nghía cái vỏ quả đậu, liếm môi rồi ba chân bốn cẳng chạy đi đánh điện cho mấy bạn học sinh.

Người Mặt Nạ Đen

Người mặt nạ đen ở nước An giép

“Черная маска из Аль-Джебры”
Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

ĐOẠN MỞ ĐẦU

Trở lại nước Tí hon

Và chuyện là thế này.

Sau cái lần Số Không bị lạc, bà mẹ Số Tám cứ một mực không chịu cho đứa con cưng của mình đi du lịch đến xứ sở loài người nữa. Đợi nó lớn hãy hay!

Bà mẹ đáng thương, bà có biết đâu việc đó dẫn đến hậu quả như thế nào!

Số Không trước đây vốn chỉ là một đ bứa trẻ tinh nghịch thôi, chứ chú cũng ngoan. Nhưng nay do nhà cư nên chú ta thành ra bất thiện. Và để phân biệt nó với các Số Không khác, người ta gọi nó là thằng Số Không – lêu lổng.

Đấy, mới ngày hôm qua nó vừa tụ tập lũ trẻ ở Quảng trường Số làm càn phá quấy đến nỗi người ta đã định gọi các bác khổng lồ ở nước Vô tận đến để trị cho chúng nó một mẻ. Chẳng là bọn Số Không chỉ sợ có mỗi mình bác Khổng lồ thôi. Cũng may là tình hình chưa căng thẳng đến mức đó. Các bà mẹ bực lắm, bèn lôi cổ con mình về nhà, cấm tiệt không được ra phố nữa.

Duy chỉ có Số không – Lêu lổng là không chịu nghe lời. Nó bỏ trốn. Nó cắm cổ chạy, chạy mãi tới một nơi mới hoàn toàn xa lạ.

Đến đây nó dừng chân, vừa thở hổn hển vừa ngoái cổ lại xem sao.

Chẳng thấy ai đuổi theo nó cả.

Chó có một mình nó, trơ trọi.

Bất giác nó đâm hoảng. Nhưng rồi tính tò mò đã thắng nối khiếp sợ.

Cách nó mấy bước thấy có một tảng đá lớn phủ đầy rêu.

Nó tiến đến gần tảng đá và thận trọng lấy tay sờ. Cũng như tất cả các chú Số Không khác, cái gỉ nó cũng phải lấy tay sờ sờ mó mó mới được.

Nó nhận xét với vẻ coi thường:

– Chẳng có quái gì cả! Có lẽ phía sau có gì hay chăng!

Số không đi vòng ra phía sau. Bỗng nó đứng sững lại: ngay sát tảng đá có một cái hang rộng đen ngòm! Nó ngó vào trong miệng hang tối như hũ nút. Ào! Một luồng khí lạnh phả vào mặt. Dần dà mắt nó cũng quen với bóng tối. Nó thấy có những bậc đá mấp mô dẫn xuống phía dưới. Nó dò xuống đến bậc thứ tư định để ngó được sâu hơn vào trong hang nhưng bống có ai đập nhẹ vào lưng nó. Hoảng quá, Số Không rụt cổ và nhắm nghiền mắt lại. Chao ôi! Sao nó lại bỏ bà mẹ Số Tám trốn đi như thế này nhỉ? Nhưng mà phải ngồi ru rú ở xó nhà suốt ba ngày liền, chẳng được cái kẹo nào vào miệng, thì cũng khổ lắm cơ!

Nó sắp khóc òa lên thì người kia lại vỗ vào lưng nó, lần này còn mạnh hơn lần trước nữa.

– Ai đấy? – Số Không vừa hỏi vừa run như cầy sấy và vẫn không dám ngoái cổ lại.

– Tôi. – Một giộng khàn khàn không quen trả lời nó.

– Tôi là ai?

– Rất tiếc là chính tôi, tôi cũng không biết mình là ai nữa.

– Anh nói đùa đấy chứ? – Số không phát cáu. – Tôi đang sợ đến chết đi được mà người ta còn cứ chế giễu tôi thế này đây! Người nào cũng phải biết rõ mình là ai chứ.

– Vậy cậu có biết cậu là ai không?

– Hôi lẩm cẩm! Tôi là Số Không. Ai cũng biết rõ như thế cả.

– Sung sướng thật! – Người kia tỏ vẻ ao ước. – Thế mà tôi là ai thì chẳng người nào biết cả.

– Chuyện hoang đường! – Số không đã lấy lại được cam đảm. Nó ngoái cổ lại, hé mắt nhìn nhưng lập tức nhắm nghiền mắt lại.

Trở lại nước Tí hon

Người mặt nạ đen ở nước An giép

“Черная маска из Аль-Джебры”
Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

ĐOẠN MỞ ĐẦU

Trở lại nước Tí hon

Ba nhà du lịch rảo bước trên đường phố thẳng tắp của A ra ben la. Nhận ra họ chẳng khó khắn gì, tuy họ đã già dặn hơn và cao thêm một chút. Đó là ba người bạn quen biết của chúng ta dạo trước: Ta nhi a, Xê va và Ô lếch. Lần này có thêm một chú chó bông xinh xinh đi theo họ. Chú chó bông cứ chạy lăng xăng, lúc vượt lên trước lúc quay trở laị, có lúc lại lại lẻn đâu vào một cái ngõ mãi chẳng thấy ra, làm cho các cậu chủ không yên tâm phải gọi toáng lên:

– Pôn sích, Pôn sích, quay lại!

 Pôn sích là một chú cún con vui tính nhất đời, hiền lành nhất đời. Chú thích sủa, nhưng không phải sủa vì tức giận như những con chó khác mà chỉ vì gặp cái gì chú cũng thấy khoái cả.

Pôn sích tò mò lắm. Gặp một cánh cửa để ngỏ, không bao giờ chú chịu đi qua mà nhất định phải dừng lại thận trọng nghiêng nghiêng ngó ngó vào trong, nhưng hễ thấy có người thì chú ta liền làm ra vẻ thản nhiên đi thẳng.

Pôn sích vốn có màu lông trắng như bông. Nhưng muốn phát hiện ra chuyện đó thì phải kỳ cọ thật lực cho chú cơ. Pôn sích ghét xà phòng, nhưng lại thích những vũng nước bẩn. Tuy vậy bữa nay bộ lông của chú cũng trăng trắng ra một chút vì trước khi kên đường đến nước Tí hon, Xê va đã tắm rửa cho chú đến nơi đến chốn. Ai lại để người ngợm bẩn thỉu như thế mà đi nghiên cứu một môn khoa học trong sáng bao giờ cơ chứ!

Pôn sích vẫn chứng nào tật ấy, nhưng làm sao mà tìm cho ra một vũng nước bẩn ở A ra ben la…

Tuy thế, bạn đường tưởng rằng ở nước Tí hon không có nước đâu nhé. Ai nói vậy là nói đùa đấy thôi.

Thành phố sạch như lau như li. Mặt trời phản chiếu qua các tấm kính của được chùi cẩn thận. Các thảm cỏ vừa được tưới nước và những giọt nước to tướng nhún nhảy, lấp lánh trên những ngọn cỏ non.

Được trở lại một thành phố mà mình đã từng qua thăm thật là thú vị.

Các nhà du lịch trẻ hài lòng thấy rằng không phải chỉ có mình nhớ rõ thủ đô của nước Tí hon, mà mọi người ở đây cũng không quên họ. Mọi người tí hon đều niềm nở đón chào nững người bạn tốt của họ và tranh nhau mời khách về chơi nhà.

Cô bé Số Bốn cài nơ mời họ đến Câu lạc bộ những người ưa tranh luận để dự buổi sinh hoạt thường kỳ lần thứ mười hai triệu một nghìn bảy trăm ba mươi mốt. Chị Số Bảy mang đũa chỉ huy thì biếu họ vé xem một buổi biểu diễn mới. Ngay đến ông già quay máy nghiền mà dạo ấy tỏ ra bất nhã với họ lúc chia tay cũng cố leo lên mặt đất và mời họ xuống quay thử máy nghiền để tính một phân số có chu kỳ dài dằng dặc.

Các nhà du lịch xúc động lăm. Họ cảm ơn tấm thịnh tình của mọi người. Nhưng họ còn tâm trí đâu mà tiêu khiển nữa. Một bức điện của số không đang canh cánh bên lòng họ. Chính là chú bé Số Không đã bị lạc rồi sau mới tìm thấy ở góc cầu thang của một trường nọ ấy mà. Số Không đã gặp điều gì bất hạnh chăng? Và Số Không đánh điện gọi các bạn học sinh tới nước Tí Hon làm gì nhỉ?

Xê va áy náy nói:

– Cho mình xem lại bức điện một chút! Có khi chúng mình đọc chưa kỹ đấy!

Ô lếch lẳng lặng đưa cho Xê va một mảnh giấu gấp cẩn thận.

Xê va đọc:

– “Một cái mặt bị mất …”

– Không phải đọc lại nữa, – Ta nhi a ngắt lời – để mình đọc thuộc lòng cho mà nghe: “Một cái mặt bị mất tích hết sức bí mật. Mời các bạn đến tìm bí mật của cái vỏ đậu … Số Không”. Nhưng thật ra chẳng có chuyện gì bí mật cả đâu. Chẳng qua vẫn cái trò tinh nghịch quen thuộc của nó đấy thôi.

Ô lếch phản đối:

– Thế nhỡ có chuyện bí mật thật thì sao?

– Thì hay quá chứ sao, – Xê va mỉm cười, vẻ ao ước. – Chẳng lẽ mình đưa con chó săn đi là phí công ư!

– Con chó săn mới giỏi làm sao, – Ta nhi a nói kháy, – nó sẽ săn tìm lấy cái thân nó. Đấy, như bây giờ chẳng hạn, nó lại lẻn đi đâu rồi?

– Cứ yên trí, nó sẽ về ngay thôi. Tốt nhất là ta hãy đi tìm Số Không cái đã, mà sao nó không ra đón bọn mình nhỉ? Tìm nó ở đâu bây giờ? Vấn đề này mới khó đây.

– Khó quái gì, – Ta nhi a tỏ vẻ coi thường. – Nó ở phố Số Tám chứ đâu.

– Ở phố Số Tám không chỉ có Số Không mà có cả mẹ nuôi nó nữa. Cậu có nghĩ đến bà ấy không? Thế cậu lại tin rằng đàn bà con gái giữ được bí mật à?

Ta nhi a đỏ mặt tía tai, nhưng chưa kịp đối đáp thì xa xa đã nghe tiếng chó sủa dồn. Đúng là Pôn sích rồi!

Xê va liền gọi:

– Pôn sích, về ngay!

Chú cún không về mà cứ sủa mãi.

– Đánh cuộc nào, nhất định là nó đã linh cảm thấy cái gì đây!

Nói xong, Xê va lao về phía có tiếng chó sủa với vẻ mặt của một nhà “thám tử” không có gì lọt qua được mắt.

Ta nhi a và Ô lếch cũng rượt theo.

Chẳng mấy chốc cả ba người đều đến chính cái vườn mà trong chuyến đi thăm nước Tí Hon lần trước họ đã có dịp giải bài toán về những quả táo.

Họ thấy Pôn sích ở đây. Nó đang vừa sủa vừa nhảy choi choi ở dưới một gốc táo.

Còn số không thì ngồi vắt vẻo trên tít ngọn cây.

Chú bé chưa bao giờ thấy một con chó. Chú tưởng con chó bông xinh xẻo này là một con quái vật đang nổi cơn thịnh nộ. Còn Pôn sích thì chẳng qua là thích nô giỡn với chú bé đáng yêu có cái chỏm trông đến ngộ này. Các nhà du lịch kéo ngay Số Không xuống, giới thiệu qua loa Pôn sích với chú bé rồi hỏi dồn dập: Ai bị mất tích cái mặt? Có chuyện bí mật gì? Và nói chúng sự thể ra sao?

Và sự thể là thế này.

Vài lời giới thiệu

Người mặt nạ đen ở nước An giép

Черная маска из Аль-Джебры

Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978

VÀI LỜI GIỚI THIỆU

Năm 1976 Nhà xuất bản Kim Đồng đã cho in cuốn “Ba ngày ở nước Tí hon” của nhà văn kiêm nhà toán học Liên Xô V.Li ốp sin. Những ai đã đọc cuốn sách đó đều cùng với ba bạn học sinh Ta nhi a, Ô lếch và Xê va tham gia một chuyến du lịch thú vị vào nước Tí hon, xứ sở của các con số. Qua những chuyện mà các bạn nhở đó đã gặp trong ba ngày du lịch tại thủ đô A ra ben la của Quốc gia số học, trong rạp xiếc của người Tí hon, trên sân băng, tại phố Gương … chúng ta đã được biết nhiều điều kỳ thú và bổ ích về các con số, về lịch sử cũng như các tính chất cơ bản của chúng.

Lần này, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu tiếp với các bạn đọc cuốn ” Người Mặt Nạ đen ở nước An giép”, là cuốn truyện thứ hai tiếp theo cuốn “Ba ngày ở nước tí hon”, do V. Li ốp sin viết chung với nhà văn E. Alecxandrova. Các tác giả sẽ đưa các bạn đọc đi thêm một chuyến du lịch nữa vào xứ sở các con số, đến nước An giép tức là nước Đại số, láng giềng của nước Số học. Các bạn sẽ gặp lại các nhân vật quen thuộc, cùng với họ giải bùa cho Người Mặt Nạ đen. Chắc chắn là các bạn đọc cũng sẽ rất hài lòng như các nhân vật trong truyện, bởi vì trong việc giải bùa cho Người Mặt Nạ đen có đòi hỏi các bạn phải lao động tí chút, song các bạn sẽ được gặp nhiều chuyện lí thú và nhất là sẽ học được cách lập và giải phương trình bậc nhất.

Mời các bạn cùng lên đường!

Người dịch.

Số không – Nhà ảo thuật

Người mặt nạ đen ở nước An giép

Черная маска из Аль-Джебры

Владимир Лёвшин и Эм. Александрова

Bản dịch của Phan Tất Đắc – NXB Kim đồng 1978
CÁNH CỬA HÀNG RÀO CUỐI CÙNG
(Số Không gửi đội KBL)

Chào các cậu! Đọc thư Ta nhi a, bọn mình khoái lắm. Và tất cả lũ học sinh của mình đều muốn trở thành nhà ảo thuật ngay. Nhưng mình bảo để một mình mình làm nhà ảo thuật thôi, còn bọn chúng thì làm người giúp việc cho mình. Công việc của chúng là ngồi trên gậy.

Thoạt đầu chẳng đứa nào muốn làm việc đó. Nhưng đến khi mình thuyết phục được chúng rồi thì lại chẳng có chỗ nào cho chúng ngồi. Vì bọn mình chẳng tìm đâu ra một cái gậy gấp đôi lại được.

Mình cáu lắm, nhưng bọn chúng thì trái lại, chúng nó rất mừng và rủ nhau chơi trò quay cánh cửa hàng rào. Ở đây bọn mình vẫn có trò chơi này. Ở A ra ben la lâu nay không còn một cái hàng rào nào cả. Tình cờ, chỉ còn lại một cái hàng rào ở tỉnh La mã thôi. Hàng rào này cũng có cả một cái cánh cửa cọt kẹt mà mình vừa kể ở trên. Bọn trẻ con thường đu lên cánh cửa rồi quay lui quay tới.

Mình cũng thủng thẳng đi đến đấy. Bọn học trò của mình đã nhảy phóc lên cánh cửa và đang quay cách cửa. Mình không chơi, chỉ đứng xem chúng nó quay thôi. Chợt mình nảy ra một ý hay: Đây rồi, cái gậy c ó thể gập lại đây rồi! Đúng ra thì đó không phải là cái gậy mà là cánh cửa hàng rào. Chẳng là, nếu mở hẳn cánh cửa ra thì nó sẽ quay đến sát hàng rào. Nhưng hàng rào sẽ gồm những thanh dọc ghép cách nhau khá thưa. Và cánh cửa cũng có bốn thanh ghép thưa như thế. Mình đếm thêm bốn thanh nữa ở hàng rào rồi chọn tám đứa phụ việc, cho mỗi đứa đứng trên một thanh và mở hẳn cánh của ra cho sát tận hàng rào là xong. Nghe mình gọi ý, bọn chúng khoái lắm. Ngồi trên gậy thì chẳng đứa nào ưa chứ cưỡi lên hàng rào thì đứa nào cũng thích mê. Để tránh cãi cọ, mình chọn tám đứa phụ việc theo thứ tự: Một, Hai, Ba, Bốn, Năm, Sáu, Bảy, Tám.

Thứ thực, mình nghĩ đấy chẳng phải là một cấp số gì cả mà chỉ là dãy số tự nhiên thôi. Nhưng không có cách nào khác, vì không làm như thế thì chúng đến đánh nhau loạn xạ mất thôi.

Các số đã ngồi lên các thanh. Mấy đứa phụ việc khác túm lấy cánh cửa. Mình vẫy tay một cái, cánh của cót két ầm ĩ quay chập vào hàng rào…. Thế là bọn mình được bốn cặp số:

4 và 5

3 và 6

2 và 7

1 và 8

Cặp nào cộng lại cũng được chín cả. Thần tình chưa!
Thế là mình phát hiện ra rằng dãy số tự nhiên cũng là một cấp số. Và công sai của cấp số này là một.
Mình bèn cộng tất các các số của dãy số tự nhiên từ một đến hai trăn. Tính nhẩm ra ngay thôi! Vì công thức của nhà ảo thuật cũng thích hợp cho trường hợp này mà lị.
Số hạng thứ nhất của cấp số là a_1=1, và số hạng cuối cùng là a_n=200. Vậy tổng của cấp số bằng:

Hai vạn một trăm! Tuyệt chưa! Mình sướng quá, ôm chầm lấy cánh cửa rồi lấy hết sức đẩy nó cùng với bọn phụ việc đang bám ở trên đó. Mấy cái bản lề gỉ không chịu nổi, cánh cửa đổ kềnh ra, và tất cả bọn ngã lăn nhào xuống đất. Thế là nối khoái chá vụt tan biến. Thôi thì chẳng còn thiếu gì nữa! Đứa thì quần áo rách bươm, đứa thì mặt mũi tím bầm… Đứa nào đứa ấy vội lủi về nhà.

Trên đường về mình còn nghĩ thêm được một cấp số cộng nữa
1+1+1+1+1+1+ …

Cứ như thế đến một nghìn. Trong cấp số này, công sai bằng không. Vì số không cũng là một số mà! Mình thay các số vào công thức và tính được:

S=(1+1)x1000/2=2×500=1000.

Nhưng về đến nhà mình  bị bà mẹ mắng cho một trận nên thân vì bọn nó về trước đã mách bà rồi. Mẹ mình bảo:

– Từ nay không có ảo thuật ảo thiếc gì hết, nghe chưa!

Vâng, từ nay còn ảo thuật vào đâu được nữa. Cái cánh cửa hàng rào cuối cùng đã gãy tung ra rồi còn gì. Lấy đâu ra cái để mà ngồi quay cơ chứ!

Chào các cậu nhé

Số Không – Nhà ảo thuật.

Bản scan của “Người mặt nạ đen ở nước Angiép”

Rất xin lỗi mọi người vì đã không hoàn thành được việc gõ lại cuốn sách như đã hứa.

Mọi người có thể tải bản scan mới được upload lên đây:

http://www.mediafire.com/?3ns2h53v4mr27

Totto Chan, cô bé bên cửa sổ – Lời giới thiệu

 

TETSUKO KUROYANAGI

TỐT-TÔ-CHAN CÔ BÉ BÊN CỬA SỔ

 

Lời nói đầu

Viết về trường Tô-mô-e và ông Sô-sa-ku Kô-ba-y-a-si, người sáng lập và điều hành trường này, là một trong những điều từ lâu tôi rất muốn làm.
Tôi không hư cấu một tình tiết nào. Tất cả đều là những sự kiện đã diễn ra và. may thay, tôi nhớ được khá nhiều. Nhoài việc muốn ghi lại những sự kiện này, tôi còn muốn chuộc lại một lời hứa không được thực hiện. Như tôi đã kể lại trong một chương của cuốn sách, khi còn là một cô bé, tôi có trịnh trọng hứa với ông Kô-ba-y-a-si rằng, khi lớn lên tôi sẽ xin dạy ở trường Tô-mô-e. Rõ ràng đấy là một lời hứa mà tôi đã không thể làm tròn. Vì vậy, thay vào đó tôi xin cố gắng làm cho mọi người biết rằng ông Kô-ba-y-a-si là người như thế nào, tình thương yêu to lớn của ông đối với trẻ em và việc ông đã tiến hành giáo dục các em ra sao.
Oâng Kô-ba-y-a-si mất năm 1963. Nếu ông còn sống đến ngày nay, chắc chắn sẽ còn nhiều điều đẻ ông có thể kể cho tôi nghe. Khi viết cuốn sách này, tôi nhận thấy nhiều tình tiết là những kỷ niệm hạnh phúc thời thơ ấu của tôi và, trong thực tế, đó là những hoạt động mà ông đã vạch ra một cách thận trọng để đạt được những kết quả nhất định. Tôi tự nhủ chắc chắn đó phải là điều mà ông Kô-ba-y-a-si hằng suy nghĩ. Hay, thật đáng quý biết bao khi biết rằng ông đã nghĩ về việc đó. Với mỗi một khám phá mới, tôi càng hết sức nhạc nhiên – cảm động và biết ơn ông sâu sắc.
Riêng tôi, tôi không thể đánh giá hết câu ông thường nói với tôi “Em biết không, em thật là một cô bé ngoan” đã giúp tôi vươn lên như thế nào. Nếu tôi không đến trường Tô-mô-e và không gặp ông Kô-ba-y-a-si thì rất có thể tôi sẽ bị mệnh danh là “một cô bé hư”, đầy mặc cảm và nhút nhát.
Năm 1945 trường Tô-mô-e bị phá huỷ trong trận oanh tạc của không quân vào Tô-ky-ô. Oâng Kô-ba-y-a-si xây dựng trường này bằng tiền riêng, do vậy việc xây dựng lại đòi hỏi phải có thời gian. Sau chiến tranh, trên mảnh đát cũ, thành lầp cơ sở hiện nay là Khoa Giáo dục trẻ em của trường Đại học Aâm nhạc Ku-ni-ta-chi. Oâng cũng đã dahy thể dục nghệ thuật ở đó và cũng đã hỗ trự cho việc thành lập Trường Tiểu học Ku-ni-ta-chi. Oâng qua đời ở tuổi sáu mươi chín, chưa kịp một lần nữa, mở lại nhôi trường lý tưởng của mình.
Tô-mô-e Ga-ku-en là một địa điểm nằm ở phía tây nam Tô-ky-ô, cách ga xe lửa Gi-y-u –gao-ka, trên tuyến đường Tô-ky-ô-kô, ba phút đi bộ. Nơi đây hiện nay là siêu thị Pê-a-xốc và bến đỗ xe. Một hôm tôi đi đén đó, hoàn toàn vì sự luyến tiết quá khứ, chứ tôi đã biết rõ rằng ở đấy chẳng còn gì gọi là dấu tích của trường bà mảnh đát của nó. Tôi lái xe chầm chậm đi qua bến đỗ xe, nơi trước đây là những phòng học gồm có các toa tàu và sân chơi của trường. Khi nhìn thấy chiếc xe của tôi, người phụ trách bến đõ xe kêu lên: “Cô không thể lái xe vào đó được đâu, không thể vào được đâu! Bến hết chỗ rồi”.
Dường như tôi muốn nói: “Tôi có muốn đỗ xe đâu, tôi chỉ muốn nhứ lại những khỷ niệm”. Nhưng anh ta làm sao có thể hiểu được. Thế là tôi lại tiếp tục lái xe đi và một nỗi buồn mênh mang xâm chiếm lòng tôi, khiến nước mắt tôi cứ trào ra trên đôi má.
Tôi biết chắc chắn rằng trên thế gian này có nhiều nhà giáo giỏi – những con người có những lý tưởng cao và có tình thương yêu to lớn đối vơi trẻ em – mơ ước mở những trường học lý tưởng. Và tôi cũng biết rằng đẻ thực hiện được những ước mơ này người ta phải trải qua biết bao khó khăn gian khổ. Oâng Kô-ba-y-a-si đã mất nhiều năm nghiên cứu, trước khi mở trường Tô-mô-e vào năm 1937, và trường này đã bị thiêu hủy năm 1945, sự tồn tại của nó thật quá ngắn ngủi.
Tôi tin rằng thời kỳ tôi ở đó chính là úc nhiệt tình của ông Kô-ba-ya-a-si đã đạt đến đỉnh cao và các kế hoạch của ông đang độ nở hoa rực rỡ. Giá như không có chiến tranh hẳn sẽ có biết bao em nhỏ đã được ông chăm sóc và giáo dục; tôi buồn lòng trước sự mất mát nói trên.
Trong cuốn sách này, tôi cố gắng miêu tả các phương pháp giáo dục của ông Kô-ba-y-a-si . Theo ông, tất cả trẻ em bẩm sinh vốn tốt đẹp, và bản chất đó rất dễ bị môi trường xung quanh cùng những ảnh hưởng xấu của người lớn phá hoại. Mục đích của ông là khám phá “bản chất” của các em và phát triển nó, để giúp các em trở thành những con người với những phẩm chất riêng.
Oâng Kô-ba-y-a-si đánh giá cao tính hồn nhiên và muốn để cho các đặc tính của trẻ em được phát truển càng tự nhiên càng tốt. Oâng cũng rất yêu thiên nhiên. Mi-y-ô-chan, con gái ông, nói với tôi rằng khi còn nhỏ cha cô thường dắt cô đi bộ và nói: “Chúng ta hãy đi tìm các nhịp điệu trong thiên nhiên”.
Oâng thường dẫn cô đến bên một cây cổ thụ, chỉ cho cô biết các cành lá đung đưa trong gió như thiế nào; ông cũng nói cho cô biết mối quan hệ giữa lá, cành và thân cây; lá cây đung đưa khác nhau là tuỳ theo tốc độ của gió. Họ đứng im quan sát những hiện tượng như vậy, và khi không có gió họ cứ đứng ngữa mặt lên trời, kiên trì đợi chờ một làn gió thoảng đến. Không những họ chỉ đứng để quan sát gió mà còn quan sát cả những dòng sông. Hai cha con cô cũng thường ra bên bờ con sông Ta-ma gần đó để ngắm nhìn nước chảy. Cô gái nói với tôi rằng, hai cha con cô không bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi làm những việc đó.
Đến đây bạn đọc có thể băn khoăm thự hỏi làm sao các nhà chức trách Nhật Bản, trong thời chiến lại có thể cho phép một trường tiểu học khác thường, nơi việc học tập được tiến hành trong bầu không khí tự do như vậy tồn tại. Oâng Kô-ba-y-a-si rất ghét sự khoa trương ầm ĩ, và thậm chí trước chiến tranh ông không cho ai được chụp ảnh hoặc tuyên truyền về tính khác thường của trường ông. Có thể, đó là một lý do tại sao ngôi trường nhỏ với gần năm mươi học sinh tránh được sự chư yư của các nhà chức trách và tiếp tục được phát truển. Một lý do khác: ông Kô-ba-y-a-si là một nhà giáo được Bộ Giáo dục đánh giá cao.
Hằng năm cứ đến mồng ba tháng Mười một, một ngày trong chương trình “Những ngày thể thao tuyệt diệu”, mọi học sinh của trường Tô-mô-e bất kể đã tốt nhiệp vào thời gian nào, kại kéo nhau về đền Ku-hon-bút-su dự hội trường. Tuy giờ đây tất cả chúng tôi đã ở tuổi ngoại bốn mươi – rất nhiề người trong chúng tôi đã xấp xỉ năm mươi – vả đã có con có cháu, chúng tôi vẫn gọi nhau bằng những tên cúng cơm. Những buổi tụ họp này là một trong những di sản hạnh phúc mà ông Kô-ba-y-a-sk đã để lại cho chúng tôi.
Thực ra tôi đã bị đuổi ra khỏi trường tiểu học đầu tiên. Tôi không nhớ nhiều về trường đó – mẹ tôi có kể cho tôi nghe về những người hát rong và về trường đó. Tôi khó có thể tin rằng mình đã bị đuổi học. Liệu tôi có thực sự hư đốn đến mức đó không? Tu nhiên, cách đây năm năm, khi tôi tham gia vào một chương trình biểu diễn trên màn hình buổi sáng, tôi được giới thuệu với một người biết tôi lúc đó. Bà chính là giáo viên của lớp bên cạnh lớp tôi. Tôi đã chết lặng đi trước điều bà nói:
“Cô học ngay bên cạnh phòng tôi”, bà nói “và khi tôi có việc đi đến phòng giáo viên, tôi thường thấy cô cứ phải đứng ở nhoài hành lang vì bị phạt. Khi tôi đi qua, cô thường níu tôi lại, hỏi tại sao người ta bắt cô đứng đó và cô đã làm điều gỉ sai trái. Có một lần cô hỏi tôi: “Cô giáo có thích những nhười hát rong không?:. Tôi không biết phải cư xử với cô ra sao, và cuối cùng, hễ muốn đến phòng giáo viên, tôi phải nhòm ra trước, nếu thấy cô đứng ở ngoài hành lang thì tôi tránh không đi. Cô chủ nhiệm lớp cô thường kể với tôi về cô trong phòng giáo viên. Cô ấy nói: “Tôi chẳng hiểu vì sao em ấy lại như vậy”. Chính vì vậy mà trong những năm sau này khi thấy cô xuất hiện trên màn hình, tôi nhận ra ngay tên cô. Thời gian cách đây đã lâu rồi , song tôi vẫn nhớ như in khi cô học lớp một”.
Có đúng là người ta đã bắt tôi đứng ở hành lang không? Tôi không nhớ rõ và rất ngạc nhiên. Song chính và giáo mái tóc hoa râm với khuôn mặt phúc hậu, với dáng dấp còn trẻ trung kia, người đã chịu khó đến tham dự chương trình biểu diễn trên màn hình buổi sáng ấy, cuối cùng đã làm cho tôi tin rằng thực sự tôi đã bị đuổi học.
Đến đây tôi lại muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với mẹ tôi vì bà đã không kể cho tôi biết điều đó, mãi cho đến ngày sinh nhật lần thứ hai mươi của tôi.
“Con cò biết tại sao con phải chuyển trường tiểu học không?” Có một hôm mẹ tôi hỏi như vậy. Khi thấy tôi trả lời: “Con không biết ạ” thì bà tiếp tục nói một cách rất thản nhiên rằng: “Chỉ vì con bị đuổi học”.
Ngày ấy bà hoàn toàn có thể nói: “Con sẽ trở thành người như thế nào đây? Con đã bị đuổi học. Nếu người ta lại đuổi con ra khỏi trường tiếp theo thì con sẽ đi đâu?”.
Nếu mẹ tôi nói với tôi như vậy trong nhày đầu tiên khi tôi bước chân vào cổng trường Tô-mô-e Ga-ku-en thì tôi sẽ cảm thấy bất hạnh và lo lắng biết chừng nào. Và nếu vậy thì cổng trường rợp bóng cây cùng những phòng học toa tàu sẽ chẳng có thể làm tôi phấn khởi. Thật may thay tôi đã có một người mẹ như mẹ tôi.
Sau chiến tranh, chỉ còn lại vài tấm ảnh chụp tại trường Tô-mô-e. Trong số đó chỉ có những tấm ảnh chụp khi tốt nghiệp là đẹp nhất. Học sinh lớp cuối cấp thường đứng ở các bậc lên xuống trước cửa phòng họp để chụp ảnh. Nhưng mỗi lần thấy học sinh tốt nghiệp xếp hàng và gọi nhau “Mau lên, chụp ảnh”, thì học sinh các lớp khác cũng muốn chen vào và thế là bấy giờ không thể nào chỉ ra ai là những học sinh của lớp tốt nghiệp. Chúng tôi thường có những cuộc thảo luận sôi nổi về chủ đề này trong các buổi họp mặt. Oâng Kô-ba-y-a-si không bao giờ nói gì vào những dịp chụp ảnh này. Có lẽ ông nghĩ rằng tốt nhất là có những hình ảnh sống động của mọi người trong trường, hơn là một bức tranh tốt nghiệp chính thức. Giờ đây xem lại, những tấm ảnh này quả là rất tiêu biểu cho trường Tô-mô-e.
Còn bao điều khác nữa tôi có thể viết về trường Tô-mô-e. Nhưng tôi sẽ rất vui mừng nếu tôi có thểù làm cho mọi người hiểu rằng cớ sao thậm chí một cô bé như Tốt-tô-chan, khi chịu những ảnh hưởng đúng đắn của người lớn, lại có thể trở thành một người biết sống hòa hợp với mọi người khác.
Sô-sa-ku Kô-ba-y-a-si, người có nhiều cảm hứng và có tầm nhìn xa đã thành lập nhà trường tuyệt vời này, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1893, tại một vùng nông thôn ở phía tây bắc Tô-ky-ô. Thiên nhiên và âm nhạc là những nhứ mà ông yêu thích nhất. Lúc còn nhỏ ông thường ra đứng trên bờ sông gần nhà, với dãy núi Ha-ru-na ở phía xa, và tưởng tượng dòng nước chảy cuồn cuộn là một dàn nhạc và ông là “nhạc trưởng”.
Là con út trong một gia đình nông dân khá nghèo có sáu người con, ông đã phải làm trợ giáo sau khi học xong tiểu học. Tuy nhiên, đẻ làm được việc, ông phải có những chứng chỉ cần thiết, và để có những thừ đó ông phải cố gắng vượt bực bằng một tài năng phi thường. Ngay sau đó ông đã giành được chỗ dạy tại một trường tiểu học ở Tô-ky-ô. Ở đâ ông đã kết hợp việc giảng dạy với việc nghiên cứu âm nhạc và chính điều đó đã giúp ông thực hiện được khát vọng mà ông hằng ấp ủ. Oâng đã vào học trong Khoa Giáo dục âm nhạc, thuộc nhạc viện đầu tiên của Nhật Bản – nay là Trường Đại học nghệ thuật và âm nhạc Tô-ky-ô. Khi tốt nghiệp, ông trở thành giáo viên dạy nhạc tại trường tiều học Xây-kây. Trường này do ông Ha-ru-gi Na-ka-mu-ra sáng lập. Oâng là một con người tuyệt diệu luôn luôn tin rằng giáo dục tiểu học là bậc giáo dục quan trọng nhất đối với trẻ em. Ở đây ông Ha-ru-gi chủ trương tổ chức những lớp ót học sinh vớ chương trình tự do để giúp các em phát triển những phẩm chất tốt đẹp của cá nhân và phát huy tính tự trọng. Việc học tập được tiến hành vào các buổi sáng. Buổi chiều dành để đi dạo thu thập cây cỏ, tập vẽ, tập hát hay nghe các baiø thuyết trình của thầy hiệu trưởng. Oâng Kô-ba-y-a-si chịu ảnh hưởng rất lớn các phương pháp của ông Ha-ru-gi Na-ka-mu-ra, và sau này ông đã xây dựng một loại chương trùnh tươnh tự ở trường Tô-mô-e.
Trong thời gian dạy nhạc ở đây ông Kô-ba-y-a-si đã viết một vở ca kịch cho trẻ em, để học sinh trình diễn. Vở ca kịch của ông đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn nhà công nghiệp I-oa-xa-ki – một thành viên trong gia đình có công ty thương mại Mít-su-bi-si khổng lồ. Nhà đại tư bản I-oa-sa-ki đã đỡ đầu cho nền nghệ thuật – giúp đỡ Kô-xca Y-a-ma-da, nhà soạn nhạc lão thành của Nhật và tài trợ cho nhà trường. Sau đó nhà đại tư bản I-oa-xa-ki còn cung cấp kinh phí để cử ông Kô-ba-y-a-si sang châu Aâu nghiên cứu các phương pháp giáo dục.
Oâng Kô-ba-y-a-si ở châu Aâu hai năm từ 1922 đến 1924. Trong thời gian này ông thường đến thăm các trường và cùng với Ê-mi-lơ Giắc-cơ Đan-crô-dơ nghiên cứu môn thể dục nghệ thuật ở Pa-ri. Khi trở về nước, cùng với một người khác, ông thành lập Trường mẫu giáo Xây-giô. Oâng Kô-ba-y-a-si thường nhắc nhở các cô mẫu giáo đừng gò ép các cháu vào những khôn mẫu định trước. “Hãy để các cháu phát triển tự nhiên”, ông nói “Đừng cản trở khát vọng của các cháu. Ước mơ của các cháu lớn hơn mơ ước của các cô”. Trước đó chưa có một trường mẫu giáo nào như thế ở Nhật Bản.
Năm 1930, ông Kô-ba-y-a-si lại đi Châu Aâu để nghiên cứu thêm một năm nữa. Cùng với Đan-crô-dơ ông đã đi quan sát ở nhiều nơi và đi đến quyết định sẽ mở trường riêng của ông khi trở về Nhật Bản.
Ngoài việc mở trường Tô-mô-e Ga-ku-en năm 1937, ông còn thành lập Hội thể dục nghệ thuật Nhật Bản. Nhiều người nhớ tới ông như là người truyền bá thể dục nghệ thuật ở Nhật Bản và ghi nhận công lao của ông trong việc xây dựng Trường Đại học Aâm nhạc Ku-ni-ta-chi sau chiến tranh. Chỉ còn lại vài người trong chúng tôi trực tiếp vận dụng các phương pháp dạy học của ông, và thật đáng buồn là ông đã qua đờ trước khi có thể xây dựng một trường nữa giống như trường Tô-mô-e. Khi trường này bị thiêu cháy, ông đã hình dung ra một trường khác tốt hơn. Bất chấp sự rung chuyển bởi bom đạn xung quanh, ông vẫn hỏivới vẻ sảng khoái: “Sắp tới, chúng ta sẽ xây dựng loại trường học như thế nào đây?”.
Khi tôi bắt tay vào viết cuốn sách này, tôi hết sức ngạc nhiên biết rằng ông chủ nhiệm chương trình phỏng vấn truyền hình hằng ngày của Tét-su-kô – người đã vùng tôi làm việc trong nhiều năm – người đã tiến hành nghiên cứu về ông Kô-ba-y-a-si được chục năm rồi. Tuy chưa bao giờ gặp ông Kô-ba-y-a-si, song một người phụ nữ đã từng chơi pi-a-nô cho các lớp thể dục nghệ thuật của trẻ em đã gợi cho ông chủ nhiệm quan tâm nghiên cứu về nhà giáo dục học này. Khi bà giáo ấy bắt đầu chơi đàn, ông Kô-ba-y-a-si thường sửa lại nhịp cho bà và nói: “Chị có biết không, các em không bước đi như vậy đâu!”. Oâng quả đã hòa mình cùng các em, nên hiểu từng nhịp thở và bước đi của chúng. Tôi hy vọng ông Ka-du-hi-kô Sa-nô – ông chủ nhiệm của tôi – sẽ sớm hoàn thành cuốn sách của mình để kể cho thế giới biết thêm nhiều chuyện về con người phi thường này.
Cách đây hai mươi năm, một biên tập viên trẻ của côn ty Kô-đan-sa phát hiện ra bài tiểu luận của tôi viết về trường Tô-mô-e đăng trong một tờ tạp chí của phụ nữ, ông tìm gặp tôi, tay ôm một tập báo, và đề nghị tôi phát triển bài tiểu lauụ©n thành một cuốn sách. Tôi có lỗi là đã dùng tờ báo đó làm một việc khác và người đàn ông trẻ tuổi kia đã trở thành mọt giám đốc trướckhi ý kiến của ông thành hiện thực. Nhưng chính nghười đó – ông Kat-su-hi-sa Kô-to – là người đã cho tôi ý nghĩ và niềm tin để làm việc này. Khi đó vì chủa viết nhiều nên việc viết cả một cuốn sách là một việc làm đáng sợ. Bà cuối cùng người ta khuyên tôi nên viết từng chương một và đăng thành một loạt bài trên tạp chí “Người phụ nữ trẻ” của Công ty Kô-đan-sa. Và tôi bắt đầu viết từ tháng hai năm 1979 đến tháng mười hai 1980.
Hăng tháng tôi thường đi thăm Viện Bảo tángách tranh của Chi-hi-rô I-oa-sa-ki ở Si-mô Sa-ku-gi, Nê-ri-ma-ku, Tô-ky-ô để chọn tranh minh họa. Chi-hi-rô I-oa-sa-ki là một nữ họa sĩ thiên tài chuyên vẽ tranh thuếu nhi. Tôi tự hỏi không biết nơi nào trên thế giới này, còn có những nghệ sĩ có thể vẽ trẻ em sống động như tranh của bà. Bà vẽ các em dưới muôn vàn tâm trạng và tư thế khác nhau và phân biệt rõ ràng những đường nét khác nhau giữa đứa trẻ sáu tháng với em bé chín tháng tuổi. Tôi không thể nói hết niềm hạnh phúc của tôi khi được phép dùng tranh của bà để minh họa cho cuốn sách của tôi. Điều kỳ lạ là tranh của bà rất phủ hợp với câu chuyện của tôi. Bà mất năm 1974, và nhiều người luôn luôn hỏi có phải tôi đã bắt tay viết cuốn sãh này khi bà còn sống không, điều đó chứng tỏ tranh của bà với muôn vàn cách miêu tả trẻ em trung thực và gần gũi với cuộc sống.
Chi-hi-rô I-la-sa-ki để lại gần bảy ngàn bức tranh, và tôi có đặc ân được xem rất nhiều tranh nguyên bản nhờ sự giúp đỡ ân tình của con trai bà, một nhà viết kich, phó giám đốc nhà bảo tàng, và vợ anh. Tôi xin tỏ lòng biết ơn đối với chồng bà nghệ sĩ vì đã cho phép tôi in lại các tác phẩm của bà. Tôi cũng xin càm ơn nhà soạn kịch Ta-đa-su Li-da-oa, giám đốc nhà bảo tàng mà hiện nay tôi là uỷ viên quản trị, đã liên tục giục tôi viết sách khi thấy tôi trì hoãn.
Tất nhiên Mi-y-ô-chan và các bạn cùng trường Tô-mô-e cũng đã giúp tôi rất nhiều. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông kây-kô I-oa-mô-tô, người biên tập bản tiếng Nhật là người luôn luôn nói: “Chúng ta phải làm cho cuốn sách này trở thành một cuốn sách hay thật sự”. Tôi có ý định chọn nhan đề tiếng Nhật từ một thành nhữ phổ biến từ nhiều năm nay đề cập đến những con người ở bên lề cửa sổ, có nghĩa là người ta đang ở trên mép cửa hay sắp bị đẩy ra ngoài giá lạnh. Tuy tôi thường phải đứng ở bên cửa sổ ngoài sự mong muốn để nhìn những người hát rong, tôi thực sự cảm thấy mình đã bị đẩy “ra ngoài cửa sổ” tại trường học đầu tiên đó – bị xa lánh và chịu sữ lạnh lùng. Đầu để của cuốn sách ngoài những ý nghĩa đó còn có thêm một ý nghĩa này nữa: cửa sổ của hạnh phúc, cuối cùng đã mở ra trước mắt tôi, tại trường Tô-mô-e!
Trường Tô-mô-e không còn nữa. Có lẽ không gì có thể làm cho tôi vui sướng hơn nếu biết rằng khi đọc cuốn sách này, trường đó sẽ sống lại trong tâm trí các bạn.
Tô-ky-ô, 1982
“Tốt-tô-chan, cô bé bên cửa sổ” mới xuất bản được ba năm, nhưng trong thời gian đó đã xảy ra biết bao điều làm tôi ngạc nhiên và sung sướng. Khi tôi viết về người thầy hiệu trưởng kính mến của mình và những tháng năm không thể nào quên của tôi tại trường Tô-mô-e, chưa bao giờ tôi dám nghĩ rằng đây lại là cuốn sách bán chạy nhất. Bốn triệu rưỡi bản đã được bán trong năm đầu và hiện nay đã lên tới gần sáu triệu. Người ta nói với tôi rằng: “Đây là một kỷ lục trong lịch sử xuất bản ở Nhật Bản!”. Nhưng điều đó ít có yư nghĩa đối với tôi. Mãi cho đến khi mỗi ngày tôi nhận được không biết bao nhiêu thư từ khắp trên đất Nhật gửi về, tôi mới bắt đầu nhận thấy rằng thực sự có rất nhiều người đang đọc cuốn sách của tôi.
Tôi nhận được thư của bạn đọc thuộc mọi lứa tuổi, từ em bé 5 tuổi đến cụ già 130 tuổi, và mỗi bức thư đều làm tôi xúc động. Tôi càng ngạc nhiên khi nhận được rất nhiều thư của các em học sinh tiểu học, vỉ chưa bao giờ tôi dám nghĩ rằng các em bé như vậy lại đọc cuốn sách này, mặc dù tôi đã cố gắng viết một cách thật dung dị, dễ hiểu, tránh dùng nhiều chữ gốc Hán khó hiểu. Trong thời đại ngày nay, khi nhiều từ đã trở thành từ chết, tôi thấy thật là tuyệt vời khi biết các em từ lớp hai trở lên đã dùng từ điển để đọc Tôt-tô-chan! Một bé gái lớp hai viết thư nói rằng cứ nhìn thấy một em bé bị tàn tật là em lại nghĩ: “Oâi lại có một Y-a-su-ki-chan, hoặc nhất định em ấy phải là một người của trường Tô-mô-e!” và thế là em lại chạy đến bên họ chào hỏi và cảm thấy rất vui khi được đáp lại. Bốn mươi năm đã trôi qua khể từ khi trường Tô-mô-e không còn tồn tại! Các em của chúng ta thật là tuyệt vời, có đúng vậy không?
Nhiều em học sinh khác viết thư kể rằng khi đọc đến đoạn nói vể trường Tô-mô-e bị thiêu hủy, các em nhận thấy chến tranh là không tốt, và như vậy thật đáng để viết cuosn sách này. Tuy nhiên khi viết nó, trước sau tôi chỉ dám nghĩ rằng thất là vui nếu như các nhà giáo và các bà mẹ trẻ khi đọc vể ông Kô-ba-y-a-si sẽ tự nhủ rằng: “Đã có một con người tận tyjy, thất sự thương yêu và tin tưởng ở trẻ em”. Nhưng tôi e rằng cũng có những giáo viên sẽ gạt bỏ những tư tưởng của ông và coi chúng là quá duy tâm trong xã hội ganh đua này…
Trong thực tế, khi cuốn sách này ra đời, một số giáo viên tiểu học đã viết thư cho tôi biết, hàng ngày họ đã đọc cho các em nghe vào giờ ăn trưa. Còn các giáo viên họa ở trường tiểu học thì lại viết thư nói rằng họ đã đọc từng phần của “Tôt-tô-chan” cho các em trong lớp nghe, và sau đó yêu cầu các em vẽ tranh minh họa theo những gì mà các em nghe được. Một số giáo viên trung học lại viết thư nói rằng đúng lúc họ cảm thấy rất thất vọng đối với nền giáo dục đến mức họ đã tính chuyện từ bỏ nghề dạy, song được sự cổ vũ boowi ngững tư tưởng của ông Kô-ba-y-a-si, họ đã quyết định ở lại. Tôi nhận được nhiều bức thư chân thành như vậy và nước mắt tôi lại trào ra khi biết có rất nhiều người suy nghĩ giống như ông Kô-ba-y-a-si.
Giáo viên đã dùng cuốn sách của tôi dười nhiều hình thức khác nhau, và năm ngoái chương mang tiêu để “ông giáo nhà nông” đã được chính thức đưa vào sách giáo khoa lớp ba tiếng Nhật, và chương “Ngôi trường cũ đổ nát” được đưa vào sách đạo đức luân lý lớp bốn. Tôi cũng nhận được những bức thư đầy lo âu. Một em gái trung học viết thư cho tôi từ một trại cải tạo trẻ em hư nói rằng: “Nếu em có một người mẹ như mẹ Tôt-tô-chan, và có một người thầy như ông Kô-ba-y-a-si, chắc chắn em đã không phải vào ở chốn này”.
Tại sao “Tôt-tô-chan” lại trở thành một cuốn sách bán chạy như vậy? Giới thông tin đại chúng đã đạt ra câu hỏi này và nó đã trở thành chủ đề của một số cuộc tranh luận. Báo A-sa-hi đã đăng một loạt bài nhan đề “Dấu hiệu Tôt-tô-chan”, thảo luận các phương diện khác nhau về sự tác động của cuốn sách, và điều đáng nhạc nhiên là một nhà xuất bản khác đã cho ra đời một cuốn sách hoàn chỉnh về chủ đe này. Cuốn sách mang tên “Tôt-tô-chan: Câu chuyện của một cuốn sách bán chạy nhất”, đã phân tích hiện tượng tại sao nó được bán chạy như vậy từ mọi khía cạnh. Tôi cho rằng một lý do về hiệu quả của cuốn sách là nó xuất hiện đúng vào lúc sự nghiệp giáo dục trở thành một vấn đề cốt yếu, và mọi người đều thấy rằng cần phải có một tác động nào đó đối với nền giáo dục, và vì vậy nhiều người đọc cuốn sách như là một luận thuyết giáo dục, mặc dù đó không phải là lý do tôi viết cuốn sách này. Hơn thế nữa đây là cuốn truyện cho mọi người, thu hút sự chú ý của mọi người, thuộc mọi lứa tuổi và quan điểm. Và chính đó cũng là một lý do khác của sự đắt khách.
Đây cũng là một cuốn sách bán chạy nhất ở Nhật của một nữ tác giả. Ban đầu phản ứng của nam giới đối với cuốn sách không thuận lợ lắm, và tôi nhận ra điều này khi các bạn nam giới được phỏng vấn đã trả lời rằng: “ Tôi bị lôi cuốn vì cái bìa in hình phụ nữ”, hoặc “Tôi gạt bỏ sự suy nghĩ đó là cuốn sách bán chạy nhất của một người mua vui nổi tiếng”. Họ còn nói: “Tôi không định đọc, nhưng người nhà cứ giục tôi đọc…” Kết quả các cuộc trao đổi là tốt. Tôi xin chân thành cảm ơn những ai trong các gia đình đã nhiệt tình cổ vũ “Tôt-tô-chan”!
Trước khi xuất bản cuốn sách, tôi đã quyết định sẽ dùng tiền nhuận bút để xây dựng nhà hát chuyên nghiệp đầu tiên cho các diễn viên điếc ở Nhật. Tôi đã đề nghị chính phủ biến nó thành một tổ chức phúc lợi xã hội để nó có thể tiếp tục hoạt động khi tôi đã quá già hoặc sau khi tôi qua đời. Đây là một việc rất khó vì không có tiền lệ, nhưng các nhà chức trách đã xem xét hơn hai mươi nhăm năm tôi hoạt động trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và cuối cùng đã đồng ý. Bằng cách này, tổ chức phúc lợi xã hội được nghe nói đến là quỹ Tôt-tô đã được lập ra. Đây là một thắng lợi không lường trước, và thông qua quỹ đó, nhà hát cho người điếc của Nhật đã xuất hiện. Hiện nay hơn hai mươi diễn viên điếc đang được huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện của quỹ Tôt-tô, và nơi đây cũng có lớp học ngôn ngữ ký hiệu. Tháng bảy vừa qua chúng tôi đã thực hiện được ước mơ mà chusg tôi hằng ấp ủ là đã đưa được vở kịch Ky-ô-gen đi biểu diễn tại liên hoan ca kịch của Đại hội quốc tế của những người câm điếc tại Pa-lếc-mô, I-ta-li-a; trước những khán giả đại diện cho bốn mươi lăm nước. Đây là lần đầu tiên các diễn viên điếc của Nhật đi biểu diễn ở nước ngoài, và điều này có được cũng nhờ nhiều người trong số bạn đọc “Tôt-tô-chan”.
Cách đây hai năm, nhờ quỹ Tôt-tô được thành lập và vì cuốn sách bán chạy nhất, tôi đã được mời tới dự Tiệc Vườn Xuân của Hoàng Đế cùng với những người như Ke-ni-chi Fu-kui, người đã được giải thưởng Nô-ben, và tôi vô cùng phấn khởi khi được ngài nói với tôi rằng: “Vui thay cuốn sách của bà bán rất chạy”.
Năm 1981 là Năm quốc tế của những người tàn tật, và ngày 9 tháng Mười hai (hiện nay được coi là ngày của những người tàn tật ở Nhật), tôi nhận được phần thưởng của Thủ tướng Su-du-ki. Tôi cũng nhận được một số giải thưởng khác trong đó có Giải thưởng của thư viện “Hòn đá bên lề đường”, để tưởng nhớ nhà văn sách thiếu nhi Y-u-giô Y-a-ma-mô-tô.
Rất nhiều người yêu cầu tôi xây dựng Tôt-tô-chan thành một bộ phim, một ca kịch của chương trình truyền hình, một bộ phim hoạt hình, một vở kịch, hay một bản nhạc. Nhưng tôi nhận thấy rằng tôi khó có thể vượt được những ký họa của Chi-hi-rô I-oa-sa-ki, và những hình ảnh mà độc giả đã tạo dựng ra trong trí tưởng tượng của mình, nên tôi đã từ chối tất cả. Nhưng rồi tôi cũng đồng ý với Dàn nhạc giao hưởng Sin-xây Ni-hen là xây dựng câu chuyện này thành một bản giao hưởng, vì âm nhạc cho phép ta mặc sức tưởng tượng. Sáng tác của A-ki-hi-rô Kô-mô-ri xúc động hơn tất cả mọi lời lẽ của tôi, và Dàn nhạc giao hưởng Sin-xây Ni-hen đã đi biểu diễn nhiều nơi trên đất Nhật, với lời dẫn truyện của chính tôi. Người ta cũng ghi âm về bản giao hưởng này.
Năm 1982, một năm sau khi Tôt-tô-chan được xuất bản Đô-rô-thy Bri-tơn đã hoàn thành bản dịch sang tiếng Anh. Đô-rô-thy vừa là người sáng tác nhạc vừa là nhà thơ và bản dịch của bà có cùng nhịp điệu như nguyên bản, và tôi cũng rất xúc dộng khi đọc bản dịch của bà. Bản tiếng Anh cũng lập một kỷ lục mới, là cuốn sách tiếng Anh bán chạy nhất ở Nhật với khoảng bốn trăm ngàn bản.
Bản tiếng Anh đồng thời cũng được phát hành tại Mỹ, và lúc đó tôi đã xuất hiện trong chương trình biều diễn “Tonight” (Đêm nay) của Giôn-ni Các-xôn. Sau đó tôi được mời đi nói chuyện, dự các buổi thông tin, và tờ “Thời báo Nữu Ước”, một tờ báo danh tiếng của Mỹ đã đăng một bài đọc sách dài trong mục Điểm sách chủ nhật. Ngoài sự việc nói trên, các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ cũng đã chớp cơ hội đưa tin về những điều mới lạ của một nữ diễn viên vô tuyến truyền hình của Nhật. Tạp chí Thời cuộc đã dành trọn một trang để phỏng vấn tôi trong số đặc biệt về Nhật Bản.
Tôt-tô-chan cũng đã được dịch và xuất bản tại Trung Quốc và Triều Tiên. Vì Nhật Bản không có các hiệp định về xuất bản (bản quyền) với các nước này nên tôi không được biết về các cuốn sách dịch, mãi cho đến khi một người bạn tốt ở Trung Quốc đã gửi cho tôi một cuốn thông qua một người Nhật quen biết. Các nhà xuất bản ở Ba Lan, và ở Phần Lan cũng đang chuẩn bị dịch và xuất bản. Một nhà xuất bản của Tiệp cũng đang tiến hành các cuộc thương lượng và một số nước Châu Âu khác cũng đã có yêu cầu. Tôi rất vui mừng khi được biết có nhiều người biết về Nhật Bản qua Tôt-tô-chan. Tôi cũng nhận được thư gửi từ nước Mỹ đến, và một bé trai trường tiểu học đã viết; “Tôt-tô-chan, bạn có phải là một bạn gái xinh đẹp không? Nếu xinh đẹp bạn có thể tới nhà tôi ăn cơm tối”. Cô giáo của em, người đã đọc truyện này cho cả lớp nghe, đã chú thích thêm một dòng, nói rằng em bé trai này xuất thân từ một gia đình nghèo người da đen.
Tôi nghĩ điều này cũng rất có ý nghĩa là có rất nhiều nữ sinh trung học, đại học đã viết thư cho tôi, tâm sự: “Cháu không ngờ đây lại là một cuốn sách giàu lòng nhân ái đén thế”. Các em không nói rõ điều gì cụ tể đã làm cho các em thấy hấp dẫn nhất. Có thể điều đó ở từng em sẽ khác nhau. Nhưng tôi nghĩ, nói chung, các em đã muốn đáp lại tình thương và độ lượng đó.
Tôi vừa được bổ nhiệm làm Sứ giả Thiện Chí của UNICEF (Quỹ nhi đồng của liên hợp quốc) – một tổ chức toàn thế giới, đã được giải thưởng Hòa Bình Nô-ben. Sở dĩ tôi được như vậy cũng là nhờ có Tôt-tô-chan, vì ông Giám đốc chấp hành của ban Thư ký UNICEF ở Niu Yóoc – người quan trọng nhất của tổ chức – đã đọc tôt-tô-chan do một người bạn gửi cho. Oâng rất xúc động và nói rằng những suy nghĩ của tôi cũng chính là những suy nghĩ của UNICEF, và thế là ông đã chọn tôi làm Sứ giả Thiện chí vì ông nghĩ rằng cần có một sứ giả Thiện chí người Châu Á. Diễn viên Mỹ Đan-ny Kay-ê, diễn viên Anh Pi-tơ U-sti-noop và nữ diễn viên Na Uy Lip UL-man đã là những Sứ giả Thiện chí nổi tiếng, và tôi là người thứ tư. Mỗi ngày có bốn mươi ngàn, và mỗi năm có mười lăm triệu trẻ em chết đói, và chết vì các bệnh tật do đói gây ra. Nhiệm vụ của tôi là phải đi để thấy các điều kiện sinh sống của các em và báo cáo với tất cả các bạn về những điều kiện đó. Mùa hè này tôi sẽ đi châu Phi và nếu bố trí kịp, tôi sẽ đi thăm một số nước Châu Á. Nếu ông Kô-ba-y-a-si còn sống, tôi chắc rằng ông sẽ rất hài lòng. “Các em có biết không, tất cả các em là một! Bất kể các em làm gì, các em đều là một trên thế giời này”. Đó là câu mà ông Kô-ba-y-a-si thường nói.
xuân 1984
TÉT-SU-KOA KU-RÔ-Y-A-NA-GI
%d bloggers like this: